Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động dạy học ở trường đại học Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường Đại học Y tế Công cộng Chương 3: Các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy học ở trường Đại học Y tế Công cộng 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Sơ lƣợc lịch sử vấn đề nghiên cứu Từ khi giành được độc lập Giáo dục và Đào tạo luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt chú trọng phát triển, đề cao là quốc sách hàng đầu.Phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ hàng đầu, là khâu đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và là chiến lược phát triển giáo dục đào tạo ở nước ta trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra định hướng “Phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo đại học”, “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” Trong quản lý giáo dục, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về các biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo như: Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Đức Ngọc. Ngoài ra còn có các luận văn thạc sĩ nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học.
Trong quá trình giáo dục, hoạt động dạy học là hoạt đông trọng tâm, quyết định sự thành công của quá trình giáo dục. Quản lý hoạt động dạy học là một nhiệm vụ quan trọng của một nhà nhà trường nói riêng và của ngành giáo dục nói chung. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học như đã nói ở trên, song quản lý hoạt động dạy học ở trường đại học Y tế Công cộng dù đã được quan tâm nhưng mới chỉ có luận văn của Nguyễn Bá Học nghiên cứu về các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên tại trường mà chưa có một công trình nghiên cứu nào về các biện pháp quản lý hoạt động dạy học. Vì vậy trong luận văn này, vận dụng các kiến thức đã lĩnh hội được trong quá trình học chuyên ngành quản lý giáo dục tác giả sẽ tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động dạy học của trường đại học Y tế Công cộng, từ đó đề ra một số biện pháp quản lý 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo đội ngũ cán bộ y tế công cộng của nhà trường.
Những khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Quản lý là một chức năng lao động - xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động. Ngay từ khi con người bắt đầu hình thành nhóm, đã biết phối hợp các nỗ lực cá nhân để thực hiện mục tiêu duy trì sự sống. Từ khi xuất hiện nền sản xuất xã hôi, nhu cầu phối hợp các hoạt động riêng lẻ càng tăng lên.
Bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp. đến một tập thể nhỏ như tổ chuyên môn, tổ sản xuất, bao giờ cũng có hai phân hệ : Người quản lý và đối tượng được quản lý. Sự cần thiết của quản lý trong một tập thể lao động được K.Marx viết : "Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung, phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những cơ quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng "(K.Marx và Ăng Ghen-toàn tập, tập 23 trang 34-NXB Chính trị quốc gia).Marx đã thấy được được bản chất quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người.
Quản lý đã trở thành một hoạt động phổ biến, mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người. Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung. Quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực, các nhà kinh tế thiên về quản lý nền sản xuất xã hội, các nhà điều khiển học thiên về quan điểm hệ thống. Cho nên khi đưa các định nghĩa về quản lý, các tác giả thường gắn với các loại hình 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quản lý cụ thể hoặc phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực hoạt động hay nghiên cứu của mình.W Taylor (1856 - 1915) cho rằng: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và phải quản lý chặt chẽ.
Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” H. Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” Theo Hà Sĩ Hồ : "Quản lý là một quá trình tác động có định hướng có chủ đích, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định".[15 - Tr20] Theo Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là tác động có mục đích có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến."[26 -Tr35] Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý về các mặt văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng. Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu; quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” (25 - Tr28).
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động QL nhằm làm cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng thái có tính chất lượng mới” Quản lý = quản + lý 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Quản là chăm sóc, giữ gìn sự ổn định + Lý là sửa sang, sắp xếp, đổi mới phát triển Vậy: Quản lý = ổn định + phát triển Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt đông quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” Từ các cách định nghĩa trên ta thấy: Quản lý dù nhìn ở góc độ nào thì nó cũng là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạt mục tiêu chung. Quá trình tác động này được vận hành trong một môi trường xác định. Quản lý thông qua quy trình kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Như vậy, khái niệm QL thường được hiểu như sau: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung.
Chức năng của quản lý Chức năng quản lý là hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý. Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân chia các chức năng của quản lý như quan điểm của Henri Fayol, quan điểm của Afanaxiep v.v, song hoạt động quản lý có 4 chức năng cơ bản và quan hệ chặt chẽ với nhau là: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. - Kế hoạch hóa: Đây là chức năng đầu tiên trong các chức năng quản lý giúp chủ thể tiếp cận mục tiêu một cách hợp lý và khoa học. Kế hoạch hóa bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hành động và quyết định cách thức, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của một hệ thống quản lý để đạt được mục tiêu.
Kế hoạch hóa giúp nhà quản lý có cái nhìn tổng thể, toàn diện từ đó thấy được hoạt động tương tác giữa các bộ phận. Việc lập kế hoạch cho phép lựa chọn những phương án tối ưu, tiết kiệm nguồn lực, tạo hiệu quả họat động cho toàn bộ tổ chức và có khả năng ứng phó với sự thay đổi. Mặt khác, nó còn tạo điều kiện dễ dàng cho 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com việc kiểm tra. Nhà quản lý thông qua kế hoạch có thể nhìn thấy tương lai, có thể điều chỉnh các quyết định trước đó để bảo đảm phương hướng mục tiêu.
Chức năng kế hoạch hóa có ba nội dung cơ bản là: + Xác định, hình thành mục tiêu đối với tổ chức + Xác định và đảm bảo (có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu này. + Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu, xác định các hoạt động ưu tiên. - Tổ chức là quá trình hình thành nên các cấu trúc, các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ thực hiện chức năng tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn lực và nhân lực.
Theo Ernest Dale, chức năng tổ chức gồm năm bước: + Bước một: Lập danh sách các công việc cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêu của tổ chức.