CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khái niệm về cạnh tranh Khái niệm “Cạnh tranh” ở mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế xã hội được nhiều tác giả trình bày dưới những góc độ khác nhau. Michael Porter (1980) quan niệm: Cạnh tranh là giành lấy thị phần.
Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Trong quan điểm của K. Marx: Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch. Từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992) ở Anh nêu “cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” [5].
Theo từ điển Bách khoa (tập 1) của Việt Nam cũng có cách giải thích “Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các nhà sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất” [14]. Ở góc độ thương mại, cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp (DN), các ngành kinh doanh nhằm chiếm được sự chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng. Như vậy từ các khái niệm trên, có thể hiểu một cách đầy đủ: “Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau để chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình”. Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể khi tham gia thị trường [11] 6 1.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Đến nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tùy vào từng bối cảnh và trình độ phát triển của nền kinh tế: Theo quan điểm của Michael Porter: “Năng lực cạnh tranh của công ty có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của công ty đó. Năng lực giành giật và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ cao thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao”. Trong quan điểm này Micheal Porter không bó hẹp ở các đối thủ cạnh tranh trực tiếp mà ông mở rộng ra các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và các sản phẩm thay thế. Theo Wikipedia định nghĩa thì: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.
Hay NLCT của doanh nghiệp còn được định nghĩa là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng và chống lại các đối thủ cạnh tranh trong việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ một cách lâu dài nhất [11]. Như vậy, “năng lực cạnh tranh của DN là khả năng duy trì, triển khai, phối hợp các nguồn lực nhằm giúp DN đạt được mục tiêu đề ra, tạo ra lợi thế cạnh tranh, năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững” [2] Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ khả năng nội tại của doanh nghiệp, dựa trên nhiều yếu tố như: giá trị sử dụng và chất lượng sản phẩm cao, điều kiện sản xuất ổn định do sản xuất chủ yếu trên cơ sở kĩ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến,…từ đó tạo ra ưu thế của mình trên thị trường. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng bởi yếu tố môi trường kinh doanh và sự thay đổi của môi trường kinh doanh có thể là 7 cơ hội phát triển cho doanh nghiệp này cũng có thể là nguy cơ phá sản các doanh nghiệp khác. Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp 1.
Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm. Khi thu nhập của người lao động ngày càng nâng cao, họ có đủ điều kiện để thõa mãn nhu cầu của mình thì chất lượng và lợi ích sản phẩm đem lại được đặt lên hàng đầu. Chất lượng thể hiện tính quyết định việc mua của khách hàng, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ở chỗ nâng cao chất lượng sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng hàng hóa bán ra, uy tín của doanh nghiệp, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp [5]. Cạnh tranh bằng giá cả Giá cả là số tiền mà người mua trả cho người bán về một hàng hóa dịch vụ.
Thực chất giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hao phí lao động sống và hao phí lao động vật hóa để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm chịu ảnh hưởng của quy luật cung – cầu. Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, giả sử cùng một loại hàng hóa dịch vụ với chất lượng tương đương nhau thì hàng hóa có giá thấp hơn sẽ được chọn mua, để lợi ích của khách hàng thu được từ sản phẩm là tối ưu nhất. Bởi vậy, các chiến thuật về giá cả luôn được áp dụng trong mọi trường hợp kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp thành công trong việc cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường nhờ vào sự khéo léo, tinh tế chiến thuật giá cả thông qua việc định giá thấp hơn giá thị trường, định giá ngang bằng giá thị trường hay chính sách giá cao hơn giá thị trường nhạy bén.
Cạnh tranh bằng sự khác biệt về sản phẩm, dịch vụ Khi chất lượng và giá cả của hàng hóa hoặc dịch vụ trên thị trường đều tương đồng nhau, doanh nghiệp buộc phải có phương thức cạnh tranh dựa trên sự khác biệt nhằm tạo ấn tượng đối với khách hàng. Đối với các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ không đủ điều kiện để tạo ra tính độc đáo của sản phẩm thì có thể sử dụng các phương thức khác như: thay đổi phương thức phục vụ, 8 thanh toán, các dịch vụ sau bán hàng… Các phương thức trên sẽ trở thành công cụ cạnh tranh thực sự khi đảm bảo nhanh, chính xác, linh động và đa dạng nhằm tạo ra sự tiện lợi cho khách hàng trong quá trình lựa chọn và sử dụng [5]. Bên cạnh đó, việc xây dựng hình ảnh, nhãn hiệu cũng được các doanh nghiệp chú trọng xây dựng. Với các nhãn hiệu lâu đời sẽ khẳng định được vị thế trên thị trường đối với người tiêu dùng.
Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối Hệ thống kênh phân phối là cách thức mà doanh nghiệp cung ứng sản phẩm cho khách hàng theo qua chuỗi cung ứng của mình. Vì vậy, DN có cách thức tổ chức hệ thống phân phối sản phẩm, dịch vụ của mình tốt, tạo ra sự thuận tiện nhanh chóng cho khách hàng thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường càng cao. Nhờ có mạng lưới kênh phân phối sẽ khắc phục được những khác biệt về thời gian và vị trí địa lý, giúp sản phẩm của nhà sản xuất dễ tiếp cận với người tiêu dùng. Cạnh tranh bằng chính sách marketing Hoạt động Marketing của doanh nghiệp được triển khai ngay từ khi có ý tưởng sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu khách hàng để đi đến quyết định sản xuất cái gì, kinh doanh những gì mà khách hàng cần, khách hàng có nhu cầu.
Đến khi triển khai các hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp sẽ sử dụng các hình thức quảng cáo để truyền bá sản phẩm đến người tiêu dùng. Kết thúc quá trình bán hàng, để tạo uy tín hơn nữa đối với khách hàng, doanh nghiệp cần thực hiện các hoạt động dịch vụ trước khi bán, trong và sau khi bán. Như vậy chính sách marketing là hoạt động quan trọng và xuyên suốt trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Đặc biệt trong thời đại công nghệ ngày càng phát triển, sự cạnh tranh về marketing càng trở nên phong phú và khốc liệt.
Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Do sự phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ, năng suất lao động tăng, nhu cầu cũng được thay đổi lên một tầm cao mới, tuổi đời của sản phẩm 9 rất ngắn so với trước đây. Chính vì vậy, cạnh tranh là rất cần thiết đối với các doanh nghiệp, nó giúp doanh nghiệp: - Tồn tại và đứng vững trên thị trường: Cạnh tranh sẽ tạo môi trường kinh doanh và những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, làm cho khách hàng tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng nhất. Doanh nghiệp nào càng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại trong nền kinh tế thị trường hiện nay. - Cạnh tranh là động lực thúc đẩy doanh nghiệp phát triển: Quy luật cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất hàng hóa càng phát triển, số lượng nhà cung ứng càng đông thì cạnh tranh ngày càng gay gắt và quyết liệt.
Kết quả là loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ và ngược lại nó thúc đẩy những doanh nghiệp làm ăn có năng suất cao và hiệu quả. Như vậy cạnh tranh sẽ tạo ra trong nền kinh tế những doanh nghiệp có đủ sức đối chọi với những biến động nhanh và khó lường của nền kinh tế toàn cầu hiện nay [5]. Như vậy, năng lực cạnh tranh giúp cho các doanh nghiệp thực hiện tốt chức năng, vai trò của mình đồng thời giúp cho doanh nghiệp vượt qua những thử thách và tạo ra cơ hội cho doanh nghiệp mình. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.
Các nhân tố bên trong 1. Năng lực về tài chính Đây là yếu tố quan trọng quyết định khả năng sản xuất và là chỉ tiêu hàng đầu để đánh giá quy mô kinh doanh của doanh nghiệp. Tình hình tài chính tốt sẽ giúp doanh nghiệp mở rộng được quy mô kinh doanh, đầu tư cho các hoạt động Marketing…từ đó nâng cao được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.