CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHAI THÁC THAN VÀ HIỆU QUẢ KHAI THÁC THAN 1.1 Khái niệm, vai trò khai thác than và hiệu quả khai thác than 1.1 Khái niệm * Khái niệm về khai thác than Khai thác mỏ là hoạt động khai thác khoáng sản hoặc các vật liệu địa chất từ lòng đất, thường là các thân quặng, mạch hoặc vỉa than. Các vật liệu được khai thác từ mỏ như kim loại cơ bản, kim loại quý, sắt, urani, than, kim cương, đá vôi, đá phiến dầu, đá muối và kali cacbonat. Bất kỳ vật liệu nào không phải từ trồng trọt hoặc được tạo ra trong phòng thí nghiệm hoặc nhà máy đều được khai thác từ mỏ.
Khai thác mỏ ở nghĩa rộng hơn bao gồm việc LV quản trị kinh doanh khai thác các nguồn tài nguyên không tái tạo (như dầu mỏ, khí thiên nhiên, hoặc thậm chí là nước).000 năm trước công nguyên, con người đã biết sử dụng mọi thứ xung quanh mình, kể cả đá cũng được dùng làm công cụ khai thác các khoáng sản. Sau một thời gian sử dụng hết những thứ tốt trên bề mặt trái đất, con người bắt đầu đào bới để tìm những thứ họ cần. Những cái mỏ đầu tiên chỉ là những cái hố nông nhưng rồi những người khai mỏ sau buộc phải đào sâu thêm để tìm kiếm. Một trong những khoáng sản họ cần lúc bấy giờ là Hoàng Thổ, được dùng như sắc tố cho các mục đích lễ nghi và vẽ tranh trong hang động.
Khu mỏ Hoàng Thổ được khai thác xưa nhất được tìm thấy là ở Bomvu Ridge thuộc Swaziland, châu Phi. Khai thác mỏ than là một hình thức khai thác mỏ mà theo đó cần phải bóc lớp đất đá phủ trên loại khoáng sản là than cần khai thác. 7 Thông thường người ta dùng hình thức khai thác dải để khai thác than đá và than nâu. Hình thức khai thác dải chỉ áp dụng nếu thân khoáng ở gần bề mặt.
Trong dạng khai thác này, lớp đất đá được loại bỏ theo dải (vạch) để lộ các lớp mỏ, quặng ở dưới. Trong một hoạt động khai thác điển hình, dải khấu đầu tiên được loại bỏ và đặt qua một bên, kế đến dải đất thứ hai cũng được loại bỏ bên cạnh dải đất thứ 1. Quá trình này lặp lại cho đến khi khai thác được toàn bộ mỏ hoặc độ dày giữa các dải đất quá lớn để không thể khai thác được nữa. * Khái niệm về hiệu quả khai thác than Hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (nhân tài, vật lực, tiền vốn.) để đạt được mục tiêu xác định.
Trình độ lợi dụng các nguồn lực chỉ có thể được đánh giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét xem với mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể tạo ra ở mức độ LV quản trị kinh doanh nào. Vì vậy, có thể mô tả hiệu quả kinh doanh bằng các công thức chung nhất sau đây: K H = C Trong đó: H: Hiệu quả K: Kết quả đạt được C: Hao phí nguồn lực cần thiết gắn với kết quả đó. Hiệu quả khai thác theo khái niệm rộng là một phạm trù kinh tế phản ánh những lợi ích đạt được từ các hoạt động khai thác của doanh nghiệp. Như vậy, hiệu quả là một đại lượng so sánh: So sánh giữa đầu vào và đầu ra, so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu được.
Đứng trên góc độ xã hội, chi phí xem xét phải là chi phí xã hội, do có sự kết hợp của các yếu tố lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động theo một tương quan cả về lượng 8 và chất trong quá trình khai thác để tạo ra sản phẩm đủ tiêu chuẩn cho tiêu dùng. Tóm lại, hiệu quả khai thác phản ánh mặt chất lượng các hoạt động khai thác và sản xuất, trình độ nguồn lực sản xuất trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp trong sự vận động không ngừng của các quá trình sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào tốc độ biến động của từng nhân tố. Ngoài ra hiệu quả khai thác phải tính đến lợi ích xã hội, nguồn tài nguyên khoáng sản không có nguy cơ bị cạn kiệt và ảnh hưởng đến môi trường sống.Vì vậy hiệu quả khai thác than chính là khai thác và sử dụng hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm nguồn tài nguyên than trong nước để sử dụng lâu dài [11], [12].2 Vai trò Ngành than đóng vai trò là ngành kinh tế trọng điểm cung cấp nhiên liệu hoạt động cho hầu hết các ngành khác, đặc biệt là điện, phân bón, giấy, LV quản trị kinh doanh xi-măng – những ngành sử dụng nhiều than nhất trong sản xuất, do đó nguồn cầu về than trên thị trường hiện đang rất lớn. Khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên than nhằm đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển bền vững kinh tế-xã hội trước mắt, lâu dài và đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường.
Than là nguyên liệu chính cho nhiều ngành công nghiệp quan trọng. Vì vậy việc cung cấp than đáp ứng đủ nhu cầu của các ngành công nghiệp là điều kiện quan trọng trong việc đảm bảo việc sản xuất của các ngành sử dụng nguyên liệu than. Trong hoàn cảnh hiện nay, các ngành công nghiệp cũng tăng trưởng rất nhanh và nhu cầu về than cũng tăng nhanh tương ứng. Việc khai thác than cần được tính toán để cân bằng cung cầu.
Quy hoạch ngành than sẽ tính toán nhu cầu và đưa ra quyết định khai thác ở đâu, bao nhiêu, tránh tình trạng khai thác than bừa bãi. Một mặt sẽ giảm thiểu yếu tố tác động 9 không tốt đến môi trường, mặt khác sẽ đảm bảo khai thác tiết kiệm, có hiệu quả. Điều này là vô cùng ý nghĩa, nó cho phép nền kinh tế quốc dân có thể sử dụng tài nguyên than lâu dài ít nhất là trong giai đoạn tới cho tới khi chúng ta tìm ra một nguồn năng lượng khác thay thế. Than với công nghiệp điện Hiện nay Việt Nam có 17 nhà máy nhiệt điện cung cấp khoảng 30% sản lượng điện cho cả nước.
Nguyên liệu than sử dụng cho nhiệt điện chiếm khoảng 30 - 50% tổng sản lượng ngành than.Những con số đã phần nào cho thấy vai trò của ngành than đối với ngành công nghiệp điện. Đặc biệt là trong tình trạng thiếu điện trầm trọng như hiện nay thì 30% tổng sản lượng điện cả nước quả thực là một con số vô cùng ý nghĩa. Trong giai đoạn tới ngành than còn tính tới việc tăng cường cung cấp than cho nhiệt điện để đảm bảo năng lượng cho phát triển kinh tế đất nước trong cả phương án tăng trưởng bình LV quản trị kinh doanh thường và tăng trưởng cao. Than với các ngành công nghiệp khác Than là nguyên liệu chính cho hầu hết các ngành công nghiệp: ngành sản xuất xi măng, ngành luyện kim, ngành công nghiệp phân bón hoá học, hoá chất, ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, ngành công nghiệp giấy, ngành công nghiệp dệt, da, may nhuộm.
Đó đều là những ngành công nghiệp quan trọng có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế quốc dân. Ngành sản xuất xi măng, công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp luyện kim đang phát triền rất mạnh mẽ và đây là những ngành đóng vai trò chính trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại cho nền kinh tế quốc dân. Công nghiệp phân bón hoá chất phát triển là điều kiện cần để nâng cao năng suất và hiện đại hoá nền nông nghiệp vốn là ngành chủ đạo và thế mạnh của nước ta. Ngoài ra, Việt Nam là một nước còn kém phát triển so với thế giới và rất dồi dào về lao động.
Vì vậy công nghiệp dệt, da, may, nhuộm là những ngành hợp nhất với 10 chúng ta để tận dụng nhân công rẻ, khéo tay. Hơn nữa đây còn là ngành xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam mang về nhiều ngoại tệ và góp phần giải bài toán lao động hóc búa. Từ vai trò quan trọng của các ngành công nghiệp sử dụng nguyên liệu than nói trên chúng ta lại càng thấy được vai trò quan trọng của ngành than. Việc phát triển ngành than ổn định là điều kiện cần để phát triển các ngành công nghiệp khác.
Đồng thời trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày than cũng là một loại chất đốt được sử dụng tương đối phổ biến. Xuất khẩu than Hiện nay ngành than đã có một thị trường xuất khẩu khá rộng lớn: Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc, Đức, Đài Loan, Malayxia, Indonexia, Cuba, các nước EU, Philipin, Nam Phi,. Ngành than luôn coi trọng và quan tâm xây dựng quan hệ hợp tác lâu dài với các công ty thương LV quản trị kinh doanh mại và các hộ tiêu dùng của Trung Quốc, Nhật Bản, các nước ASEAN, các nước Châu Âu,.để duy trì và tăng sản lượng than xuất khẩu. Đây là nguồn thu ngoại tệ lớn của nước ta, đồng thời còn là nguồn thu chủ yếu đảm bảo hiệu quả kinh tế cho ngành than.
Ngoài ra ngành than còn thu hút khá nhiều lao động. Năm 2015, ngành đã giải quyết công ăn việc làm cho gần 100 nghìn người. Ngành than phát triển sẽ tạo ra nhiều việc làm hơn và ổn định đời sống của công nhân viên ngành than [12]. Quy trình quản lý khai thác than Quy trình khoan Quy trình xúc Quy trình Quy trình xúc Khai thác đất đá khoan nổ mìn đất đá Cảng tiêu thụ Bãi sàng Vận chuyển Than Nguyên Quy trình xúc khai than Đơn vị thu mua Bãi thải Vận chuyển Chất thải mỏ xử lý chất thải Suối Hệ thống xử lý nước thải Hình 1.1: Sơ đồ quy trình quản lý khai thác than lộ thiên LV quản trị kinh doanh 1.
Quy trình khoan * Phòng kỹ thuật sản xuất phối hợp cùng công trường thi công khoan, Công trường KTLT quản lý khai trường có hộ chiếu bãi khoan tiến hành cắm bãi khoan theo hộ chiếu được duyệt, giao cho công trường khoan triển khai theo hộ chiếu khoan tại thực địa để tổ chức thực hiện. Công trường thi công khoan, thợ vận hành khoan căn cứ vào hộ chiếu khoan để tiến hành khoan theo thiết kế. Việc đo mặt bãi khoan, cắm bãi khoan sử dụng máy đo trắc địa để thực hiện theo quy định của đơn vị. Việc vận hành máy khoan đảm bảo đúng quy trình vận hành máy và các điều kiện đảm bảo an toàn cho người và thiết bị [13].