CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ HỢP TÁC XÃ 1. Nguồn nhân lực 1. Nhân lực và nguồn nhân lực - Nhân lực: bao gồm thể lực và trí lực của mỗi người. Thể lực là tình trạng sức khoẻ của con người, trí lực là nguồn tiềm tàng to lớn của con người, đó là tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách v.
- Nguồn nhân lực: Là số người có khả năng làm việc, cống hiến cho xã hội. Tuy vậy loại trừ một số trường hợp lao động đặc biệt, Luật pháp của mỗi quốc gia quy định cụ thể độ tuổi làm việc của người lao động.TS Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH” [17, tr. - Theo giáo trình "nguồn nhân lực" của nhà xuất bản lao động xã hội: "nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội" [36, tr. - Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: "Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển KT – XH trong một cộng đồng [38, tr.
Chất lượng nguồn nhân lực Trong nền KT-XH của một đất nước, thì chất lượng nguồn nhân lực được coi là chỉ tiêu quan trọng phản ánh trình độ phát triển kinh tế và đời sống của người dân trong một xã hội. 5 Chất lượng nguồn nhân lực là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo thực hiện thắng lợi mực tiêu cho tổ chức đó. Theo bài viết của TS. Vũ Thị Mai thì “chất lượng nguồn nhân lực là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mực tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của ngươi lao động”.
Hay chất lượng nguồn nhân lực có thể được hiểu là:” trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực” [27. Mai Quốc Chánh và TS. Trần Xuân Cầu (2003) trong Giáo trình Kinh tế lao động, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB LĐ XH- Hà Nội: Trong điền kiên kinh tế thị trường cạnh tranh cao và hội nhập sâu rộng thì chất lượng nguồn nhân lực được coi là chỉ tiêu quan trọng phản ánh trình độ phát triển kinh tế và đời sống của con người trong một xã hội nhất định. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực [36,tr.
215- 234] - Chỉ tiêu biểu hiện trạng thái sức khỏe: Là trạng thái thoải mái về tinh thần, tiêu chuẩn đo lường về tình trạng sức khỏe thông qua các bộ phận trong và ngoài cơ thể con người. Thể hiện: + Tiêu chuẩn đo lường về chiều cao, cân nặng; + Tiêu chuẩn đo lường về trạng thái thần kinh, mắt và tai, mũi, họng…; + Có bệnh, khả năng nhiễm bệnh, sức đề kháng. - Chỉ tiêu trình độ văn hóa: Trình độ văn hóa là sự hiểu biết của con người đối với kiến thức phổ thông, tự nhiên, xã hội. Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực thể hiện: 6 + Tỷ lệ số người biết chữ trên số người có khả năng tham gia làm việc trong xã hội; + Số lượng và tỷ tệ người qua các cấp học tiểu học, trung học cơ sở, phổ thông trung học, cao đẳng, đại hoc, trên đại học…; + Phẩm chất của con người.
- Chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn: Thể hiện sự hiểu biết, khả năng thực hành về một chuyên môn, nghề nghiệp nào đó thông qua quá trình làm việc: + Cơ cấu lao động được đào tạo; + Số lượng lao động được đào tạo và chưa qua đào tạo; + Cấp đào tạo; Công nhân kỹ thuật và cán bộ chuyên môn khác. Vai trò của nguồn nhân lực - Xét khía cạnh trong một tổ chức thì nguồn nhân lực chính là nguồn tri thức, chỉ có con người mới có thể sáng tạo ra các hàng hoá, dịch vụ và kiểm tra được quá trình sản xuất kinh doanh đó. Không có những con người làm việc hiệu quả thì tổ chức đó không thể nào đạt tới mục tiêu. - Xét tổng quan trong nền KT-XH, nguồn nhân lực là nguồn gốc của sự sáng tạo của con người kết hợp với tài nguyên thiên nhiên để tạo ra những sản phẩm phục vụ con người, đóng góp cho tổng sản phẩm quốc nội tăng nhanh, thúc đẩy KHKT phát triển.
- KT-XH không ngừng tiến lên do nguồn lực của con người là vô tận. Nếu biết khai thác nguồn lực này đúng cách, sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực [36, tr. Chính trị, KT-XH Chất lượng nguồn nhân lực bị chi phối khi biến đổi KT-XH - Chính trị, pháp luật, các chính sách xã hội là những nhân tố quan trọng nhất tác động lớn đến phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
7 Hệ thống chính sách xã hội là cơ sở để nguồn nhân lực có thể phát huy khả năng sáng tạo trong quá trình phát triển KT-XH. - Nếu nền KT-XH tăng trưởng, trước hết đời sống của người dân sẽ được nâng cao. Thể hiện người dân sẽ được sử dụng chất lượng dinh dưỡng, được hưởng các dịch vụ giáo dục, chăm sóc sức khỏe tốt hơn để tái tạo sức lao động, hiểu biết sâu rộng có kiến thức góp phần vào sự phát triển chung của con người. - Khi nền KT-XH phát triển sẽ là điểm đến của các Nhà đầu tư, vì vậy rất dễ nhận thấy đầu tư trong nước sẽ tăng, và từ đó tạo ra được nhiều việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, ổn định nền KT-XH cho mỗi quốc gia.
- Khi nền KT-XH phát triển cũng là động lực thúc đảy nguồn nhân lực phải có chất lượng để đáp ứng, theo kịp. Để nền KT-XH phát triển ổn định bền vững, thì nâng cao chất lượng nguồn nhân lực luôn phải được Nhà nước quan tâm đúng mức. Sức khỏe Sức khỏe của con người ảnh hưởng trực tiếp đến công việc hằng ngày của họ. Nhà nước cần có chính sách quan tâm chăm sóc sức khỏe cho người dân tốt sẽ tạo được cho xã hội nguồn nhân lực có chất lượng và ngược lại sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến phát triển trí não, khả năng phát huy những tiềm năng của con người.
Sức khỏe về mặt tinh thần người lao động được tăng lên nhờ môi trường làm việc thuận lợi, an toàn, lạc quan tạo hưng phấn muốn cống hiến. Giáo dục và đào tạo - Giáo dục và đào tạo ảnh hưởng trực tiếp đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Hệ thống Giáo dục tạo cho nguồn nhân lực có tư duy hệ thống, phẩm chất đạo đức tốt. Định hướng của Nhà nước về Hệ thống đào tạo 8 sẽ cân bằng được cơ cấu nguồn nhân lực như: người quản lý, kỹ thuật, thợ chuyên ngành phù hợp với từng giai đoạn phát triển KT-XH.
- Các nhà nghiên cứu cho rằng, một nền giáo dục đồng bộ, toàn diện sẽ tạo ra những nhà khoa học, những lao động tri thức, thợ chuyên ngành có kỹ năng nghề nghiệp, năng động và sáng tạo. - Với thế hệ trẻ, giáo dục và đào tạo còn là quá trình hình thành, phát triển thế giới quan, tình cảm, đạo đức, văn hóa dân tộc. Hoàn thiện nhân cách là nền tảng, là cơ sở tạo ra nguyên liệu cho đào tạo nguồn nhân lực trong tương lai. Đối với xã hội, giáo dục và đào tạo là quá trình tích tụ kiến thức để chuẩn bị cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cho xã hội.
Vì vậy đầu tư cho giáo dục đào tạo được xem như là sự chuẩn bị cho sự phát triển lâu dài phục vụ cho nền KT-XH. Khoa học - Công nghệ Ngày nay, sự tiến bộ của KH & CN thế giới đang phát triển tác động mạnh mẽ lên các nước đang phát triển. Để tiếp thu KHKT công nghệ mới, nguồn nhân lực đòi hỏi phải được nâng cao chất lượng để tiếp nhận. Những tiến bộ KH & CN có thể làm thay đổi cơ cấu lao động trong một số ngành ở mỗi quốc gia, người lao động cần phải được đào tạo lại để nâng cao trình độ chuyên môn đáp ứng sử dụng công nghệ mới, số lượng lao động trí óc tăng dần, lao động chân tay ngày càng có khuynh hướng giảm xuống; Tiến bộ KH & CN tạo nên sự cạnh tranh gay gắt về năng suất, chất lượng, giá thành sản phẩm.
Nhiều ngành nghề mới xuất hiện, nhiều nghề cũ mất đi, phương thức đào tạo cho người lao động theo xu hướng cần gì học nấy, vì vậy người lao động phải học tập suốt đời, không ngừng nâng cao trình độ để đáp ứng với thay đổi của KH & CN. Văn hóa dân tộc Văn hóa của một đất nước là giá trị truyền thống lịch sử dân tộc đã ăn sâu vào tiềm thức người dân ở mọi thế hệ như: Hiếu với cha mẹ, trọng với thầy, tình nghĩa vợ chồng, lòng yêu nước, tinh dũng cảm, tinh hiếu học, lối 9 sống, lòng nhân ái, tính cộng đồng sẵn sàng tương trợ người khác trong hoạn nạn. Hiểu được văn hóa dân tộc, phong tục tập quán địa phương, có chương trình đào tạo phù hợp sẽ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tốt hơn. Hội nhập kinh tế HNKT , hàng hóa của các nước được giao lưu rộng rãi, sự canh tranh giữa chất lượng, chủng loại, mẫu mã, giá cả hàng hóa càng trở lên gay gắt.
Để tồn tại, các doanh nghiệp tổ chức kinh tế trong nội địa buộc phải đổi mới phương thức và công nghệ sản xuất để theo kịp những sản phẩm sản xuất nhập khẩu. Người lao động cần đào tạo để có kiến thức cao hơn sử dụng công nghệ mới, chất lượng nguồn lực được nâng cao. HNKT tạo điều kiện cho các quốc gia, địa phương kết hợp sức mạnh dân tộc, phát huy nội lực và mọi tiềm năng sáng tạo, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho phát triển sản xuất.