CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1. Khái niệm, cơ cấu và vai trò của nguồn nhân lực. Khái niệm và cơ cấu nguồn nhân lực 1. Khái niệm "Nguồn lực con người" hay "nguồn nhân lực”, là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển: Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau.
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: "Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng" [17]. Việc quản lý và sử dụng nguồn lực con người khó khăn phức tạp hơn nhiều so với các nguồn lực khác bởi con người là một thực thể sinh vật - xã hội, rất nhạy cảm với những tác động qua lại của mọi mối quan hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn ra trong môi trường sống của họ. Theo Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH”. Như vậy, các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội.
Nguồn nhân lực (human resources): là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân 6 lực có thể xác định cho một quốc gia, vùng lãnh thố, địa phương (tỉnh, thành phố.) và nó khác với các nguồn lực khác (tài chính, đất đai, công nghệ.) ở chỗ nguồn lực con người với hoạt động lao động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên và trong quá trình lao động nảy sinh các quan hệ lao động và quan hệ xã hội. Với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, ở nghĩa rộng nhất thì nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động. Với tư cách là khả năng đảm đương lao động chính của xã hội thì nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động (do pháp luật lao động quy định).
Như vậy, nguồn nhân lực phản ánh các đặc điểm quan trọng nhất sau đây: + Nguồn nhân lực là nguồn lực con người; + Nguồn nhân lực là bộ phận của dân số, gắn với cung lao động; + Nguồn nhân lực phản ánh khả năng lao động của một xã hội.[15] Vì vậy, có thể định nghĩa: “Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội“. Hay nói cách khác: “Nguồn nhân lực của một tổ chức là toàn bộ người lao động làm việc trong tổ chức đó theo một cơ cấu xác định, với khả năng lao động và tiềm năng sáng tạo vô hạn, được tổ chức quản lý và phát triển nhằm thúc đẩy vai trò nguồn lực hạt nhân trong quá trình thực thi sứ mạng của tổ chức”.Cơ cấu nguồn nhân lực: là mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng của các nhân lực trong tổ chức. Một tổ chức có cơ cấu lao động hợp lý là nhân tố bảo đảm để tổ chức thực hiện tốt mục tiêu của mình. Có 2 loại cơ cấu nguồn nhân lực cơ bản: 7 - Thứ nhất, cơ cấu nguồn nhân lực theo chức năng: nguồn nhân lực trong 1 tổ chức gồm nhà quản lý và nhân viên thừa hành.
Nhà lãnh đạo được phân ra thành: lãnh đạo ổ chức và lãnh đạo các bộ phận cấu thành và các nhân viên thực hiện chức năng nghiệp vụ quản lí (tổ chức, tài chính,.) - Thứ hai, cơ cấu nguồn nhân lực theo trình độ chuyên môn: thể hiện mặt chất lượng của nguồn nhân lực. Cơ cấu này được phân theo các tiêu chí cụ thể như: không qua đào tạo, trung học chuyên nghiệp, Cao đẳng, Đại học…Cơ cấu trình độ chuyên môn hợp lý là sự phù hợp chức năng, nhiệm vụ và trình độ chuyên môn của người thực hiện. Ngoài ra, còn phân cơ cấu nguồn nhân lực theo độ tuổi và giới tính. Vai trò nguồn nhân lực.
Vai trò của nguồn nhân lực xuất phát từ vai trò quan trọng của con người trong sự phát triển của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển của kinh tế xã hội. Nguồn nhân lực là nhân tố chủ yếu tạo hiệu quả và năng suất công việc cho tổ chức: Nguồn nhân lực đảm bảo các nguồn sáng tạo trong tổ chức. Mặc dù có cơ sở vật chất thiết bị, nguồn tài chính là những nguồn tài nguyên mà các tổ chức đều cần phải có, nhưng trong đó tài nguyên nhân văn - con người lại đặc biệt quan trọng. Không có những con người làm việc hiệu quả thì tổ chức đó không thể nào đạt tới mục tiêu.
Nguồn nhân lực là nguồn lực mang tính chiến lược: Trong điều kiện xã hội đang chuyển dần sang nền kinh tế tri thức, thì các nhân tố vốn, nguyên vật liệu (các yếu tố đầu vào) đang giảm dần vai trò của nó. Bên cạnh đó, nhân tố tri thức của con người ngày càng chiến vị trí quan trọng. Nguồn nhân lực có tính năng động, sáng tạo và hoạt động trí óc của con người ngày càng trở nên quan trọng. Nguồn nhân lực là nguồn lực vô tận nhưng có sự lựa chọn: Xã hội không ngừng tiến lên, doanh nghiệp ngày càng phát triển và nguồn lực con người là vô tận.
Nếu sử dụng nguồn lực này đúng cách sẽ giúp xã hội phát triển, thoả mãn các nhu cầu ngày càng cao của con người. Như vậy có thể nói nguồn nhân lực là một nguồn lực có vai trò quan trọng 8 quyết định tới sự phát triển của kinh tế xã hội. Đầu tư cho nguồn nhân lực là đầu tư mang lại hiệu quả lâu dài và bền vững nhất. Chất lượng nguồn nhân lực và các yếu tố ảnh hưởng 1.Chất lượng nguồn nhân lực và các tiêu chí đánh giá 1.
Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực Có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau khi nói về chất lượng nguồn nhân lực: Theo TS. Nguyễn Thanh Mai - trưởng bộ môn quản lý nhân lực trường Đại học Kinh tế Quốc dân, chất lượng nguồn nhân lực là: “mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động” [10]. Mai Quốc Chánh, chất lượng nguồn nhân lực được hiểu “Chất lượng nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất”. [1] Tóm lại, chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực.
Hầu hết các quan điểm đều đưa ra các tiêu chí để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực chủ yếu là trình độ học vấn, trình độ văn hóa, kiến thức chuyên môn, kỹ năng làm việc, phẩm chất, năng lực. Các tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực - Thể lực của nguồn nhân lực: là trạng thái thoải mái về thể chất cũng như tinh thần của con người. Nó phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc, nghỉ ngơi … của nguồn nhân lực. Thể lực được phản ánh qua tiêu chuẩn đo lường về chiều cao, cân nặng, điều kiện chăm sóc sức khỏe,các giác quan nội khoa, ngoại khoa, thần kinh, tâm thần, tai, mũi, họng….
Ở tầm vĩ mô ngoài các chỉ tiêu trên người ta còn đưa ra một số chỉ tiêu khác như tỷ lệ sinh thô, chết thô, tỷ lệ tử vong của trẻ em. Một nguồn nhân lực có chất lượng cao phải là một nguồn nhân lực có trạng thái sức 9 khoẻ tốt. - Trí lực của nguồn nhân lực: là năng lực của trí tuệ gồm tri thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm. Trí lực được chia ra 2 khía cạnh: Trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn nghiệp vụ: + Trình độ văn hóa là: một chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân lực và nó tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế xã hội, sự phát triển của tổ chức.
Trình độ văn hóa là khả năng tiếp thu được những kiến thức cơ bản, trình độ văn hóa được cung cấp qua các hệ thống giáo dục, qua quá trình tích lũy kiến thức của mỗi người. + Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: là sự hiểu biết, khả năng thực hành những kiến thức, kĩ năng vận dụng vào để thực hiện công việc mình đảm nhận. Nó biểu hiện trình độ được đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, sau đại học; có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc thuộc chuyên môn nhất định. Vậy trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực được đo bằng: Tỷ lệ cán bộ trung cấp.
Tỷ lệ cán bộ cao đẳng. Tỷ lệ cán bộ đại học và sau đại học. Có nhiều chuyên môn khác nhau và trong mỗi chuyên môn đó lại có thể chia thành các chuyên môn nhỏ hơn. Trình độ kỹ thuật của người lao động thường dùng đế chỉ trình độ của những người được đào tạo ở các trường kỹ thuật, được trang bị kiến thức nhất định, những kỹ năng thực hành về công việc nhất định.
Trình độ kỹ thuật được hiểu thông qua các chỉ tiêu: số lao động đã qua đào tạo và lao động phổ thông; số người có bằng kỹ thuật và không có bằng; Trình độ tay nghề theo bậc thợ.