mở đầu cho các hoạt động tố tụn hác để làm rõ tội phạm xảy ra, vạch trần n ười có lỗi khi thực hiện hành vi phạm tội, có ý kiến cho rằng, biện pháp khởi tố bị can là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chính thức tuyên bố về mặt pháp lí một n ười nào đó có dấu hiệu phạm tội và đan bị truy cứu trách nhiệm hình sự. iến hác cũn cho rằng, khởi tố bị can là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tuyên bố về mặt pháp lí một n ười nào đó phạm tội và bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên ý iến đã đưa ra quan điểm quyết định khởi tố bị can là “tuyên bố về mặt pháp lí một n ười nào đó đã phạm tội.” chưa thật chính xác vì theo Bộ luật TTHS qui định: “Khôn ai bị coi là có tội hi chưa có bản án ết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” [46]. Cần phải hiểu rằng, bị can mới chỉ là dạng nghi ngờ (hoặc là đã) thực hiện hành vi phạm tội nhưn mới chỉ là bước đầu đưa họ vào diện cần phải điều tra để làm rõ “Ai là n ười thực hiện hành vi phạm tội” mà thôi [46].
10 z Để thực hiện hành vi pháp lí hởi tố bị can, Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần phải tiến hành một loạt các hoạt độn hác, như: tiếp nhận tin báo, tố iác về tội phạm và các tài liệu ban đầu do các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp; xác minh các thôn tin, tài liệu đó; bắt quả tan ; iám định, định iá tài sản (nếu có); hám xét… sau đó mới tiến hành được thủ tục quan trọn , có tính quyết định mà ết quả của nó được thể hiện bằn hình thức là văn bản TTHS - quyết định khởi tố bị can. Về quyết định khởi tố bị can, có quan điểm cho rằng: Quyết định khởi tố bị can là văn bản pháp lí, tron đó, Cơ quan điều tra xác định một n ười đã thực hiện hành vi phạm tội. Bên cạnh đó, cũn có ý iến cho rằng, quyết định khởi tố bị can cũn là một hành vi pháp lí (hành vi quyết định khởi tố bị can) của cơ quan có thẩm quyền để xác định một n ười đã thực hiện hành vi phạm tội và cần phải tiến hành điều tra theo qui định của pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với n ười đó. Kết quả của hành vi tố tụn này là văn bản tố tụng.
Tác iả cho rằng, quyết định khởi tố bị can là văn bản TTHS do cơ quan có thẩm quyền khởi tố bị can ban hành, trong đó xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi phạm tội. Khởi tố bị can là việc quyết định bằn văn bản của Cơ quan có thẩm quyền đối với một n ười hi có đủ căn cứ xác định n ười đó đã thực hiện hành vi phạm tội. Quyết định khởi tố bị can là cơ sở pháp lý để áp dụn các biện pháp n ăn chặn cần thiết và tiến hành các biện pháp điều tra đối với n ười đó. Cần chú ý là, đối với một n ười tuy chưa thực hiện các hành vi hách quan của một tội phạm cụ thể, nhưn đan hoặc đã thực hiện việc tìm iếm, sửa soạn côn cụ, phươn tiện hoặc tạo ra nhữn điều kiện hác để thực hiện một tội rất n hiêm trọng hoặc một tội đặc biệt n hiêm trọn ( iai đoạn chuẩn bị phạm tội) thì vẫn có thể bị khởi tố theo quy định tại Điều 14 Bộ luật hình sự.
Theo ý iến của tác iả, khởi tố bị can là hành vi pháp lí của Cơ quan 11 z Điều tra, Viện kiểm sát, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư xác định một người hoặc pháp nhân nào đó đã thực hiện hành vi phạm tội và cần phải tiến hành điều tra theo qui định của pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người hoặc pháp nhân đó. Đặc điểm iện pháp khởi tố bị can Khởi tố vụ án, hởi tố bị can là vấn đề quan trọn tron pháp luật TTHS. Việc nhận thức sâu sắc đặc điểm biện pháp hởi tố bị can là tiền đề để triển hai và áp dụn có hiệu quả tron thực tế chế định này. Biện pháp khởi tố bị can là một hành vi tố tụng có bản chất là hoạt động áp dụng pháp luật TTHS của các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Về hía cạnh pháp luật, luật TTHS quy định về các biện pháp TTHS tron quá trình iải quyết vụ án hình sự.
Biện pháp hởi tố bị can là một trong nhữn hành vi (hoạt động) tố tụn được quy định trong luật TTHS. Các cơ quan tiến hành TTHS nhân danh Nhà nước thực hiện hoạt độn áp dụn pháp luật, chuyển các quy định pháp luật thành quyền và n h a vụ thực tế của các chủ thể. Cùn với khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can mở ra tư cách tố tụng cho cá nhân/pháp nhân đã có nhữn hành vi bị nghi ngờ/bị coi là tội phạm hình sự, từ đó là cơ sở cho việc áp dụn các biện pháp tố tụng tiếp theo. Là một biện pháp pháp lý TTHS có bản chất là hoạt độn áp dụn pháp luật nên biện pháp hởi tố bị can có cơ sở thực tế và cơ sở pháp lý để áp dụng.
Chủ thể áp dụn là các cơ quan tiến hành TTHS, man tính quyền lực. Trình tự, thủ tục áp dụn cũn được quy định chặt chẽ. Cơ sở thực tế để áp dụng biện pháp hởi tố bị can là hi có các chứng cứ để xác định một n ười thực hiện hành vi mà BLHS coi là tội phạm. Biện pháp này được quy định trong BLTTHS nhưn hi áp dụn thì các cơ quan tiến hành TTHS sẽ căn cứ cả vào Luật hình sự để xác định dấu hiệu về mặt nội dun hành vi mà một n ười đã 12 z thực hiện thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội phạm nào đó tron BLHS.
Là hành vi tố tụn đầu tiên áp dụn đối với một cá nhân/pháp nhân tron vụ án hình sự, là cơ sở cho nhữn hành vi tố tụng tiếp theo của các cơ quan/n ười tiến hành TTHS nên các quy định về biện pháp khởi tố bị can được quy định rất chi tiết, đảm bảo tính pháp chế n hiêm minh, tránh làm oan n ười vô tội. Hình thức pháp lý của biện pháp hởi tố bị can là một quyết định áp dụng pháp luật TTHS, được ban hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ được quy định trong BLTTHS. Căn cứ để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can đối với một n ười hoặc pháp nhân hi có tài liệu, chứng cứ chứng minh họ có hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự. Chứng cứ mà cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt độn điều tra, Viện kiểm sát thu thập phải là những sự vật, hiện tượng tồn tại hách quan, phản ánh ở những nguồn và được thu thập theo trình tự, thủ tục quy định của Luật TTHS.
Khác với khởi tố vụ án hình sự, chỉ cần có dấu hiệu của tội phạm là Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố. Đã là dấu hiệu của tội phạm thì có thể được thể hiện thôn qua các dấu hiệu thuộc về mặt hách quan và chủ quan của tội phạm nhưn hôn nhất thiết phải đầy đủ các dấu hiệu mới khởi tố. Việc khởi tố bị can chỉ được tiến hành hi xác định con n ười cụ thể đã thực hiện hành vi n uy hiểm cho xã hội được BLHS qui định là tội phạm. Như vậy, việc khởi tố bị can đặt ra vấn đề trách nhiệm nặng nề hơn so với việc khởi tố vụ án vì nó liên quan trực tiếp đến số phận pháp lý con n ười.
Về n uyên tắc, Cơ quan có thẩm quyền chỉ ra quyết định khởi tố bị can sau hi đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Trường hợp phạm tội quả tang mà n ười phạm tội có đầy đủ các điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự thì quyết định khởi tố bị can ngay sau khi khởi tố vụ án ( ần như là cùn thời điểm). Tuy nhiên, hôn phải trong mọi trường hợp ngay từ đầu, Cơ quan 13 z điều tra đều phát hiện được tất cả các tình tiết có liên quan đến hành vi phạm tội của bị can hoặc tất cả các tội phạm mà bị can đã thực hiện. Chính vì vậy, tron quá trình điều tra vụ án hình sự nếu có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can hôn phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc bị can còn có hành vi phạm tội hác thì Cơ quan điều tra có quyền hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can.
Xuất phát từ hái niệm khoa học đã được đưa ra trên đây của biện pháp khởi tố bị can, chún ta có thể nhận thấy, bản chất pháp lý của iai đoạn này là ở chỗ: Với tính chất là một biện pháp độc lập của TTHS, biện pháp khởi tố bị can có chức năn thực hiện các nhiệm vụ cụ thể để xác định các chủ thể chịu tác động bởi pháp luật về nội dung (vật chất) và về pháp luật về hình thức (tố tụng) của việc điều tra vụ án hình sự; thời điểm của iai đoạn này được bắt đầu từ khi nhận được nhữn thôn tin đầu tiên về việc thực hiện hành vi phạm tội và ết thúc bằng quyết định về việc khởi tố bị can có liên quan đến hành vi đó. Biện pháp hởi tố bị can là một trong những hoạt động TTHS mà tron đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS tiến hành việc xác định có (hay hôn ) các dấu hiệu của tội phạm tron hành vi n uy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố bị can liên quan đến hành vi đó. Biện pháp hởi tố bị can hôn chỉ đơn thuần là sự buộc tội có tính chất "sơ bộ" từ phía cơ quan có thẩm quyền, Cơ quan điều tra đối với cá nhân một n ười hi có đủ căn cứ xác định n ười đó đã thực hiện hành vi phạm tội.