CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÂN SỰ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CẢNG BIỂN 1. Khái niệm và vai trò của quản lý nhân sự 1. Khái niệm của quản lý nhân sự Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước, cũng như ngoài nước xảy ra vô cùng khốc liệt. Để tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải hội tụ đủ ba điều kiện cơ bản và quan trọng đó là: con người, tài chính và thị trường.
Một doanh nghiệp thành đạt trong kinh doanh cần phải biết sử dụng nhân tài, có tiềm lực về tài chính mạnh và có nhiều công việc. Mặt khác để doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả hay không có hiệu quả còn phụ thuộc vào khả năng, năng lực của các nhà quản trị của các lĩnh vực, trong đó không thể không nói đến quản lý nhân sự. Quản lý nhân sự là hoạt động quy hoạch, tuyển dụng, triển khai và quản lý nhân viên của một tổ chức. Bộ phận nhân sự của một công ty hoặc tổ chức thường chịu trách nhiệm giám sát các chính sách quản lý người lao động và mối quan hệ của tổ chức với nhân viên của mình.
“Quản lý nhân sự là quá trình tuyển dụng , lựa chọn , giới thiệu nhân viên , đưa ra định hướng , đào tạo và phát triển , đánh giá hiệu quả làm việc của nhân viên , quyết định lương thưởng và cung cấp quyền lợi , tạo động lực cho nhân viên , duy trì quan hệ đúng đắn với nhân viên và công đoàn của họ , đảm bảo an toàn cho nhân viên, các biện pháp phúc lợi và tuân thủ luật lao động của đất nước”[7] Quản lý nhân sự cũng có thể được định nghĩa là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm soát, bù đắp, phát triển, tích hợp, duy trì, v. của nhân sự nhằm đạt được các mục tiêu xã hội và cá nhân của tổ chức. Như vậy, quản lý nhân sự là chức năng tổ chức quản lý tất cả các vấn đề liên quan đến con người trong một tổ chức. Điều đó bao gồm các hoạt động về lương thưởng, hoạch định và tuyển dụng, quản lý hiệu suất, phát triển 7 tổ chức, an toàn, sức khỏe, lợi ích, động lực của nhân viên, giao tiếp, quản lý chính sách và đào tạo phát triển con người 1.
Vai trò của quản lý nhân sự “Vai trò của quản lý nhân sự là quản lý mọi người trong một nơi làm việc để đạt được sứ mệnh của tổ chức và củng cố văn hóa doanh nghiệp. Khi được thực hiện một cách hiệu quả, các nhà quản lý nhân sự có thể giúp tuyển dụng các chuyên gia mới có các kỹ năng cần thiết để tiếp tục đạt được các mục tiêu của công ty cũng như hỗ trợ đào tạo và phát triển nhân viên hiện tại để đáp ứng các mục tiêu. Ngoài ra, các nhà quản lý nhân sự có thể theo dõi trạng thái của thị trường việc làm để giúp tổ chức duy trì tính cạnh tranh. Điều này có thể bao gồm việc đảm bảo lương thưởng và phúc lợi là công bằng, các sự kiện được lên kế hoạch để giúp nhân viên không bị kiệt sức và các vai trò công việc được điều chỉnh dựa trên thị trường.”[7] NNL là nhân tố chủ đạo giúp doanh nghiệp có được lợi nhuận.
NNL giúp đảm bảo các nguồn sáng tạo trong tổ chức. Chỉ có con người mới tạo ra hàng hóa, dịch vụ, kiểm tra được quá trình kinh doanh. Bên cạnh các nguồn lực như tài sản, trang thiết bị, tài chính, con người cũng là loại tài sản quan trọng bởi nếu không có con người, các nguồn lực trên không thể hoạt động hiệu quả. NNL là nguồn lực vô tận và nếu biết khai thác nguồn lực này đúng cách, doanh nghiệp sẽ thu được nhiều của cải vật chất, góp phần giúp cho xã hội ngày càng phát triển và đời sống của con người ngày càng được nâng cao.
Việc nghiên cứu quản lý nhân sự có một số vai trò như: Khi nghiên cứu quản lý nhân sự, các nhà quản trị sẽ có những biện pháp, kế hoạch để quản trị, sử dụng NNL của mình một cách hiệu quả. Các nhà quản trị sẽ biết cách lập kế hoạch, xây dựng sơ đồ tổ chức rõ ràng, phương pháp kiểm tra, đánh giá chính xác,. Tuy nhiên, để làm được điều đó, trước tiên các nhà quản trị phải đảm bảo NNL tuyển dụng được là đúng và 8 phải kết hợp nhiều biện pháp để kích thích nhân viên. Do đó, nhà quản trị cần biết cách làm việc, hòa hợp, lôi kéo nhân viên tận tâm, tận lực cho mình.
Nghiên cứu quản lý nhân sự cũng giúp cho các nhà quản trị học được cách giao dịch với người khác, tìm được tiếng nói chung, hiểu được nhu cầu của nhân viên, có các biện pháp đánh giá nhân viên chính xác, kích thích, lôi kéo nhân viên làm việc hết lòng cho mình, tránh các sai lầm trong tuyển dụng, sử dụng, phân công công việc. Nhờ đó, hiệu quả của doanh nghiệp ngày được nâng cao và doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn. Quản lý nhân sự giúp doanh nghiệp sử dụng sức lao động hiệu quả nhất và từ đó, giúp tăng năng suất lao động. Như vậy, quản lý nhân sự là một lĩnh vực quản trị của doanh nghiệp, một phương tiện để khai thác và sử dụng nguồn lực hiệu quả, đáp ứng nhu cầu phát triển và hoàn thiện của tổ chức.
Không một doanh nghiệp nào có thể tồn tại và phát triển nếu không tiến hành quản trị nhân lực. Trong sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay, các doanh nghiệp đang hướng mình phát triển theo hướng tinh gọn, năng động, trong đó, con người là yếu tố quyết định. Do đó, việc tìm đúng người, phù hợp với công việc được phân công sẽ giúp cho doanh nghiệp dễ dàng và nhanh chóng đạt được mục tiêu hơn. Đặc điểm của nhân sự trong các doanh nghiệp cảng biển Lao động là yếu tố đầu vào quan trọng trong ngành cảng biển.
Chi phí nhân công chiếm hơn 50% chi phí hoạt động của cảng. Tỷ trọng chi phí nhân công trong tổng chi phí chiếm 15-20% đối với các cảng hàng container, 40- 75% đối với cảng tổng hợp và 50-70% đối với các cảng hàng rời. Số lượng lao động phụ thuộc vào lưu lượng giao thông tại cảng. Lưu lượng giao thông tại cảng thường phụ thuộc thời điểm thu hoạch các sản phẩm hàng hóa như ngũ cốc, hoa quả… đặc biệt tại các cảng hàng khô.
Đối với các cảng container, nhu cầu lao động tương đối ổn định và dễ dự đoán hơn. Vào những mùa cao điểm, lưu lượng tàu ra vào cảng nhiều, các công nhân tại cảng phải làm thêm giờ, hoặc các nhà khai thác cảng sẽ thuê thêm các nguồn lao động tạm thời. Do tính 9 không thường xuyên đối với nhu cầu lao động, nên biến phí chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi phí hoạt động tại cảng (thường chiếm 50-60%). Nguồn nhân lực cảng biển được hình thành, phát triển gắn liền với ngành cảng biển và cũng là chủ thể quan trọng nhất của ngành công nghiệp này.
Cơ cấu của nó có thể được tiếp cận từ nhiều góc độ. Xét theo trình độ chuyên môn, nguồn nhân lực này bao gồm: Các nhà lãnh đạo và quản lý; kỹ sư kỹ thuật, Công nhân lành nghề, công nhân bốc xếp và lao động phổ thông. Xét theo trình độ tay nghề nguồn nhân lực này có thể phân thành nhóm lao động trình độ cao (chuyên gia, kỹ sư, thợ bậc cao) và nhóm lao động phổ thông. Xét theo quá trình đào tạo, tuy đặc tính chung là phải được đào tạo chuyên biệt, nhưng có thể phân loại công nhân cảng biển thành nhóm được đào tạo chuyên sâu và nhóm được đào tạo chung.
Quá trình đào tạo và những thương hiệu của các cơ sở đào tạo nghề có thể cho phép đánh giá về một phương diện chất lượng nhân lực. Tùy theo đặc thù công việc, mỗi nhóm ngành còn có thể có những phân loại tỷ mỷ, chi tiết khác: kho hàng, sảng xuất, kỹ thuật, khai thác… Nguồn nhân lực ngành cảng biển, theo chúng tôi là lực lượng lao động (gồm cả lực lượng đang lao động hay ở trạng thái dự trữ, tiềm năng) được đào tạo, có trình độ học vấn và chuyên môn lành nghề, có kinh nghiệm và năng lực tiếp nhận, làm chủ, vận dụng sáng tạo tri thức, kỹ năng, thành tựu khoa học - công nghệ vào trong quá trình bốc xếp và khai thác cảng. Họ là một bộ phận hợp thành nguồn nhân lực công nghiệp của quốc gia. Đặc điểm của nguồn nhân lực ngành công nghiệp cảng biển bao gồm: Thứ nhất, nguồn nhân lực cảng biển gắn liền với chiến lược biển, kinh tế biển của một quốc gia.
Sự hình thành và phát triển nguồn nhân lực ngành cảng biển có tính tùy thuộc khá lớn vào các yếu tố của điều kiện tự nhiên là biển. Biển chính là môi trường, không gian hoạt động chủ yếu của nghề cảng 10 biển… Lịch sử ra đời, phát triển ngành cảng biển cũng luôn gắn liền với yêu cầu của kinh tế biển và chiến lược biển của mỗi quốc gia. Nguồn nhân lực cảng biển chính là sản phẩm vừa là bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vừa là động lực của quốc gia có biển trong việc thực hiện có hiệu quả mục tiêu chiến lược biển. Do đó, sự phát triển lớn mạnh của nguồn nhân lực ngành cảng biển nó góp một phần quan trọng thỏa mãn khát vọng vươn ra biển, khai thác, làm chủ và khẳng định quyền lực trên biển của mỗi quốc gia.
Có điều kiện tự nhiên là biển và có ý thức chủ động khai thác, chiếm lĩnh và bảo vệ quyền và lợi ích của quốc gia từ biển là những tiền đề tự nhiên và chính trị - xã hội đề phát triển. Thứ hai, lao động của công nghiệp ngành cảng biển có tính (tích hợp của nhiều ngành) xã hội hoá cao. Nghề cảng biển có khối lượng công việc rất lớn và đa dạng, kỹ thuật tích hợp gắn với nhiều ngành, ở những trình độ chuyên môn và tay nghề khác nhau. Nhìn chung, bất kỳ mảng việc nào trong cảng biển đều phải trải qua ít nhất 4 công đoạn chính dưới sự chỉ đạo giám sát chặt chẽ, nghiêm ngặt theo các tiêu chuẩn của các tổ chức đăng kiểm quốc tế Thứ ba, do hoạt động trong một ngành công nghệ tích hợp, kỹ thuật phức tạp lại có tính chính xác cao nên nhân lực ngành cảng biển phải được đào tạo chuyên môn hóa, chuyên biệt và liên kết về tri thức và kỹ năng.