Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tiền lương và công tác tổ chức tiền lương trong doanh nghiệp. Chương 2: Một số nét khái quát về Cảng Hải Phòng và Xí nghiệp xếp dỡ Hoàng Diệu. Chương 3: Phân tích thực trạng phương pháp tính lương khối gián tiếp tại Xí ngiệp xếp dỡ Hoàng Diệu. Chương 4: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện phương pháp tính lương cho khối gián tiếp tại Xí nghiệp xếp dỡ Hoàng Diệu.
Do trình độ hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế cũng nhƣ phạm vi của đề tài còn hạn chế. Vì vậy, khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận đƣợc sự góp ý của các thầy cô và các bạn để khóa luận của em đƣợc hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn sự hƣớng dẫn nhiệt tình của cô giáo Ths. Lã SV: Hoàng Thị Phƣợng – QT1202N 8 Khoá luận tốt nghiệp Thị Thanh Thủy, tập thể các thầy cô giáo bộ môn Quản trị kinh doanh – Trƣờng Đại học Dân lập Hải Phòng cùng các cô chú cán bộ công nhân viên của Xí nghiệp xếp dỡ Hoàng Diệu đã giúp em hoàn thành bài khoá luận này.
Hải Phòng, ngày 27 tháng 06 năm 2012 Sinh viên Hoàng Thị Phƣợng SV: Hoàng Thị Phƣợng – QT1202N 9 Khoá luận tốt nghiệp CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TIỀN LƢƠNG VÀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC TIỀN LƢƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm, bản chất và các nguyên tắc của tiền lƣơng 1.1 Khái niệm Tiền lƣơng là tiền trả cho việc cung ứng sức lao động, vì vậy, về bản chất, tiền lƣơng biểu thị quan hệ kinh tế giữa ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động. Phạm trù tiền lƣơng, tự nó đã bao hàm vừa là thu nhập, vừa là chi phí: Chi phí của nhà sản xuất để hợp thành chi phí sản xuất kinh doanh và còn là thu nhập của ngƣời lao động. Lao động chính là quá trình sử dụng sức lao động. Đối với tƣ liệu lao động và đối tƣợng lao động thì tái tạo có ý nghĩa là mua sắm cái mới.
Nhƣng sức lao động thì lại khác, sức lao động gắn liền với hoạt động của con ngƣời, là thể lực - trí lực của con ngƣời. Vì vậy muốn tái tạo lại sức lao động thì phải thông qua hoạt động sống của con ngƣời, tiêu dùng một lƣợng vật chất vừa đủ một lƣợng nhất định, phần vật chất này do ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động dƣới hình thức hiện vật hay giá trị đƣợc gọi là tiền lƣơng. Để có đƣợc nhận thức toàn diện, khái niệm tiền lƣơng, tiền công của ngƣời lao động trong khu vực sản xuất kinh doanh cần bao quát đƣợc cả ý nghĩa kinh tế, những ràng buộc về luật pháp, xâu chuỗi các quan hệ xã hội, thu gộp cả bản chất là chi phí và đồng thời là thu nhập của quan hệ thuê và sử dụng lao động. Mặt khác trong nền kinh tế thị trƣờng, bản chất của tiền lƣơng là ngang giá của chi phí về yếu tố sức lao động và cũng chịu sự tác động của cung, cầu, quy luật cạnh tranh, tính độc quyền hay không độc quyềncủa thị trƣờng lao động.
Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, khái niệm tiền lƣơng còn phải thể hiện đƣợc tính liên thông giữa các thị trƣờng lao động trong nƣớc và quốc tế, sự lên xuống về giá cả giữa các loại lao động khác nhau, vai trò và khả năng can thiệp của các chính phủ … Vì thế : “Tiền lƣơng trong DN là SV: Hoàng Thị Phƣợng – QT1202N 10 Khoá luận tốt nghiệp biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động mà chủ DN thỏa thuận trả cho ngƣời lao động căn cứ vào trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm và số lƣợng thời gian mà từng ngƣời lao động sẵn sàng cung ứng, căn cứ vào giá thuê sức lao động trên các thị trƣờng tƣơng đƣơng và những quy định hiện hành của luật pháp”.2 Bản chất của tiền lương Với tƣ cách là giá của yếu tố sức lao động, đƣợc mua bán theo phƣơng thức thỏa thuận trên thị trƣờng, tiền lƣơng biểu hiện quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội giữa bên cần sức lao động (các DN, các tổ chức kinh tế xã hội) và bên cung ứng sức lao động. „‟Mục đích của các nhà sản xuất là lợi nhuận, còn mục đích lợi ích của ngƣời cung ứng sức lao động là tiền lƣơng. Với ý nghĩa này, tiền lƣơng không chỉ mang bản chất là chi phí, mà nó đã trở thành phƣơng tiện tạo ra giá trị mới, hay đúng hơn, là nguồn kích thích sự sáng tạo,sức sản xuất, năng lực của lao động trong quá trình sản sinh ra các giá trị gia tăng‟‟ Bản chất kinh tế của tiền lƣơng là hình thái giá trị của sức lao động, là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động. Mặt khác tiền lƣơng còn là đòn bẩy kinh tế để khuyến khích tinh thần hăng hái lao động, kích thích tạo mối quan tâm của ngƣời lao động đến kết quả công việc của mình.
Nói cách khác tiền lƣơng chính là một nhân tố thúc đẩy năng suất lao động. Tiền lương tối thiểu: là giá tối thiểu của hàng hoá sức lao động mà bất kỳ một chủ DN nào khi mua, cũng nhƣ bất kỳ một ngƣời lao động nào khi bán, cũng phải thống nhất thỏathuận, không đƣợc thấp hơn mức giá tối thiểu này. Tiền lƣơng tối thiểu là mức lƣơng để trảcho ngƣời lao động làm công việc đơn giản nhất (không qua đào tạo) với điều kiện lao động và môi trƣờng lao động bình thƣờng. Tiêu chuẩn để xác định một mức tiền lƣơng tối thiểu khả dĩ hợp lý, có thể dựa vào những dấu hiệu sau : 1.
Dựa trên nền mức sống tối thiểu của xã hội. Trình độ có thể đạt đƣợc của nền kinh tế làm cho mức sống tối thiểu có SV: Hoàng Thị Phƣợng – QT1202N 11 Khoá luận tốt nghiệp thể vận động và đƣợc cải thiện tăng lên, do sự tăng trƣởng của kinh tế xã hội. Những thông tin về cung và cầu trên thị trƣờng lao động và khả năng chấpnhận giá đầu vào (trong đó có yếu tố sức lao động ) của các DN. Sự biến động về mức giá của nền kinh tế, đặc biệt là mức giá tiêu dùng.
Giá công trên thị trƣờng lao động của khu vực và thế giới, đặc biệt là giá công lao động tại các thị trƣờng khá giống nhau về các hàng hoá dịch vụ sức lao động, về nhu cầu, về sức mua từ thu nhập bằng lƣơng… Điều này góp phần làmgiảm bớt sự chia cắt giữa các thị trƣờng lao động không chỉ trong nội bộ quốc giamà cả trong phạm vi nội bộ khu vực và toàn thế giới. Tiền lương linh hoạt dƣới cách nhìn đơn giản nhất, tổng quát nhất, là mức lƣơng trả cho ngƣời lao động không theo mộtkhuôn mẫu định sẵn, mà chủ yếu tùy thuộc vào cách đánh giá của ngƣời sử dụng lao động về lợi ích và hiệu quả từ những thỏa thuận, thƣơng lƣợng về tiền lƣơng cao hơn mức tiền lƣơng bình quân của thị trƣờng lao động, nhằm đạt đƣợc sự sẵn sàng cung ứng sức lao động nhƣ yêu cầu của DN. Đặc tính cơ bản của tiền lƣơng linh hoạt là cơ chế “thuận mua vừa bán”, trong đó quan trọng nhất là ngƣời sử dụng lao động sẵn sàng chấp nhận mức lƣơng cao hơn, để đạt đƣợc sự cung ứng tốt hơn từ phía ngƣời lao động. Tiền lương danh nghĩa là tiền lƣơng biểu hiện bằng tiền, là số tiền công nhân lĩnh đƣợc do bán sức lao động cho nhà tƣ bản.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, tiền lƣơng danh nghĩa đƣợc hiểu là số lƣợng tiền tệ mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời cung ứng sức lao động, căn cứ vào hợp đồng thỏa thuận mà hai bên đã ký. Tiền lương thực tế là số lƣợng các loại hàng hoá tiêu dùng và các loại dịch vụ cần thiết mà ngƣời lao động hƣởng lƣơng có thể mua đƣợc bằng tiền lƣơng danh nghĩa của họ. Cả về lý luận và thực tiễn đều nhất trí rằng, tiền lƣơng thực tế bị chi phối đồng thời bởi 2 nhân tố: Mức lƣơng danh nghĩa và Mức giá hàng hoá dịch vụ (mà trực tiếp là mức giá của hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng). SV: Hoàng Thị Phƣợng – QT1202N 12 Khoá luận tốt nghiệp 1.3 Các nguyên tắc tiền lương - Trả lƣơng bằng nhau cho lao động nhƣ nhau Nguyên tắc này bắt nguồn từ phân phối theo lao động.
Trả lƣơng bằng nhau cho lao động nhƣ nhau có nghĩa là khi quy định tiền lƣơng, tiền thƣởng cho công nhân viên chức, nhất thiết không đƣợc phân biệt giới tính, tuổi tác, dân tộc mà phải trả cho mọi ngƣời đồng đều số lƣợng, chất lƣợng mà họ đã cống hiến cho xã hội. - Bảo đảm tăng năng suất lao động bình quân Là một nguyên tắc quan trọng trong tổ chức tiền lƣơng. Vì có nhƣ vậy mới tạo ra cơ sở hạ giá thành, giảm giá cả và tăng tích luỹ để tái sản xuất mở rộng. Tiền lƣơng bình quân tăng chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố chủ yếu do nâng cao năng suất lao động nhƣ nâng cao trình độ lành nghề, giảm bớt thời gian tổn thất cho lao động.
- Bảo đảm thu nhập hợp lí giữa các ngành nghề khác nhau trong nền kinh tế Trong nền kinh tế quốc dân có tính chất phức tạp về mặt kĩ thuật khác nhau. Do đó đối với những ngƣời lao động lành nghề làm việc trong các ngành có yêu cầu kĩ thuật phức tạp phải đƣợc trả lƣơng cao hơn những ngƣời lao động làm việc trong những ngành không đòi hỏi yêu cầu kĩ thuật cao. Khi đó sẽ khuyến khích ngƣời lao động lành nghề ngày cảng đông đảo. Vì thế khi trình độ lành nghề bình quân giữa các ngành khác nhau sẽ làm cho tiền lƣơng bình quân cũng khác nhau.
Những ngƣời lao động làm việc trong điều kiện nặng nhọc, tốn nhiều năng lƣợng sẽ đƣợc trả cao hơn những ngƣời làm việc trong điều kiện bình thƣờng để bù đắp lại sức lao động đã hao phí. Từ đó các điều kiện lao động đều ảnh hƣởng ít nhiều đến tiền lƣơng bình quân của mỗi ngành. - Khuyến khích bằng lợi ích vật chất kết hợp với giáo dục chính trị tƣ SV: Hoàng Thị Phƣợng – QT1202N 13 Khoá luận tốt nghiệp tƣởng cho ngƣời lao động Trong quản lí kinh tế, quản lí con ngƣời không thể coi nhẹ nhu cầu nào. Vì vậy muốn quản lí có hiệu quả thì phải nghiên cứu để đáp ứng các nhu cầu chính đáng, hợp lí của họ.