phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1. KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG Chƣơng 2. CHIẾN LƢỢC XOAY TRỤC CHÂU Á VÀ NHỮNG CHÍNH SÁCH CỦA MỸ VỀ VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG Chƣơng 3. CÁC XU HƢỚNG TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI BIỂN ĐÔNG CỦA MỸ VÀ KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1.
KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG 1. Khái quát về Biển Đông 1. Vị trí địa lý Biể n Đông1 là một biển nằm ở rìa Tây Thái Bình Dương còn gọi là biển Nam Trung Hoa (tên tiếng Anh: The South China Sea và tiếng Pháp: Mer de Chine Méridionale). Biển Đông là một biển nửa kín, có diện tích khoảng 3,5 triệu km vuông, trải rộng từ vĩ độ 3o lên đến vĩ độ 26o Bắc và từ kinh độ 100o đến 121o Đông.
Biển Đông được bao bọc bởi tám nước khác là Trung Quốc, Phi-líp-pin, In-đô-nê-xi-a, Bru-nây, Ma-lai-xi-a, Sing-ga-po, Thái Lan và Cam-pu-chia. Biển Đông không chỉ là địa bàn chiến lược quan trọng đối với các nước trong khu vực mà còn cả của châu Á - Thái Bình Dương và Mỹ. Tài nguyên thiên nhiên Biển Đông là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng, đặc biệt là nguồn tài nguyên sinh vật (thuỷ sản), khoáng sản (dầu khí), phốt phát. Trong khu vực, có các nước đánh bắt và nuôi trồng hải sản đứng hàng đầu thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, In-đô-nê-xi-a và Phi-líp-pin, trong đó Trung Quốc là nước đánh bắt cá lớn nhất thế giới (khoảng 4,38 triệu tấn/năm), Thái Lan đứng thứ 10 thế giới (với khoảng 1,5 - 2 triệu tấn/năm), cả khu vực đánh bắt khoảng 7 - 8% tổng sản lượng đánh bắt cá trên toàn thế giới [110].
Biển Đông được coi là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới. Các khu vực thềm lục địa có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Bru- nây - Saba, Sarawak, Ma-lai, Pattani Thái, Nam Côn Sơn, Mê Công, Sông Hồng. Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam đã xác định nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí, trong đó các bể trầm tích Cửu Long và Nam Côn Sơn được đánh giá có triển vọng dầu khí lớn nhất, điều kiện khai thác tương đối thuận lợi. “Tổng trữ lượng dự báo địa 1 Xem phụ lục 1.
17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chất về dầu khí của toàn thềm lục địa Việt Nam đạt xấp xỉ 10 tỷ tấn dầu qui đổi, trữ lượng khai thác khoảng 02 tỷ tấn và trữ lượng dự báo của khí khoảng 1. Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dự trữ dầu đã được kiểm chứng ở Biển Đông là 07 tỉ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày. Theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 213 tỷ thùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng. Với trữ lượng này và sản lượng khai thác có thể đạt khoảng 18,5 triệu tấn/năm duy trì được trong vòng 15 - 20 năm tới” [110].
Các khu vực có tiềm năng dầu khí còn lại chưa khai thác là khu vực thềm lục địa ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và bờ biển miền Trung, khu vực thềm lục địa Tư Chính. Trữ lượng và sản lượng dầu khí của Việt Nam đứng vào hạng trung bình trong khu vực, tương đương Thái Lan và Ma-lai-xi-a. Bên cạnh đó, trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn có một lượng phốt phát từ phân chim rất lớn. Phốt phát trên hai quần đảo này, được hình thành do phân chim tác dụng với cácbonnát canxi san hô.
Người ta gọi đó là phốt phát dưới dạng guano (phân chim). Tầng phốt phát ở trên các đảo được tích tụ qua nhiều năn khá dày, có chất lượng tốt, hàm lương từ 23 đến 25%, thậm chí 42% [6, tr. Tháng 8/1973 một số kỹ sư hóa học hầm mỏ Việt Nam và Nhật Bản đã tổ chức một đợt điều tra trữ lượng phốt phát tại Hoàng Sa. Chỉ tính riêng các đảo trong nhóm phía Tây Nam (trong đó có đảo Hoàng Sa), trữ lượng có thể lên tới 780.
Tầm quan trọng chiến lược của Biển Đông Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu - Châu Á, Trung Đông - Châu Á. Năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến Biển Đông gồm: tuyến Tây Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh đào Xuy-ê, Trung Đông đến Ấn Độ, Đông Á, Úc, Niu Di Lân; tuyến Đông Á đi qua kênh đào Panama đến bờ Đông Bắc Mỹ và Caribe; tuyến Đông Á đi 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Úc và Niu Di Lân, Nam Thái Bình Dương; tuyến Tây Bắc Mỹ đến Đông Á và Đông Nam Á. Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới. “Mỗi ngày có khoảng từ 150 - 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30.000 tấn trở lên” [110].
Trong khu vực Đông Nam Á có khoảng 536 cảng biển, trong đó có hai cảng vào loại lớn và hiện đại nhất thế giới là cảng Xinh-ga-po và Hồng Công “Dọc bờ Biển Đông là một số cảng coongtenơ lớn nhất và nhộn nhịp nhất thế giới như cảng Xinh-ga-po, Hồng Kông và Cao Hùng”[27, tr. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển Đông. Lượng dầu lửa và khí hoá lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Pa-na-ma. Khu vực Biển Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước, với 4 trong 16 con đường chiến lược của thế giới nằm trong khu vực Đông Nam Á (Ma-lắc-ca, Lombok, Sunda, Ombai - Wetar).
Đặc biệt eo biển Ma-lắc-ca là eo biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới (sau eo biển Hormuz). Các đảo và quần đảo trong Biển Đông có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan trọng đối với nhiều nước. Nằm ở trung tâm Biển Đông, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một trong những khu vực có nhiều tuyến đường biển nhất trên thế giới. Trên các tuyến đường biển đóng vai trò chiến lược của Châu Á có hai điểm trọng yếu: Thứ nhất là eo biển Ma-lắc-ca (nằm giữa đảo Sumatra của In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a).
Vị trí này vô cùng quan trọng vì tất cả hàng hoá của các nước Đông Nam Á và Bắc Á phải đi qua. Ba eo biển thuộc chủ quyền của In-đô-nê-xi-a là Sunda, Blombok và Makascha đóng vai trò dự phòng trong tình huống eo biển Ma-lắc-ca ngừng hoạt động vì lý do gì đó. Tuy nhiên, nếu phải vận chuyển qua các eo biển này thì hàng hoá giữa Ấn Độ Dương sang ASEAN và Bắc Á sẽ chịu cước phí cao hơn vì quãng đường dài hơn. Điểm trọng yếu thứ hai là vùng Biển Đông, nơi có nhiều tuyến 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đường hàng hải đi qua, đặc biệt là khu vực xung quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Các tuyến đường biển chiến lược nói trên là yết hầu cho giao lưu hàng hoá của nhiều nước Châu Á. Xuất khẩu hàng hoá của Nhật Bản phải đi qua khu vực này chiếm 42%, các nước Đông Nam Á 55%, các nước công nghiệp mới 26%, Ô-xtrây-li-a 40% và Trung Quốc 22% (trị giá khoảng 31 tỷ đô la) [2]. Nếu khủng hoảng nổ ra ở vùng biển này, các loại tàu biển phải chạy theo đường mới hoặc vòng qua Nam Ô-xtrây-li-a thì cước phí vận tải thậm chí sẽ tăng gấp năm lần và không còn đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Ngoài ra, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí chiến lược, có thể dùng để kiểm soát các tuyến hàng hải qua lại Biển Đông và dùng cho mục đích quân sự như đặt trạm ra đa, các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu bè.
Các nhà chiến lược phương Tây cho rằng quốc gia nào kiểm soát được quần đảo Trường Sa sẽ khống chế được cả Biển Đông. Vấn đề Biển Đông 1. Giới hạn lại vấn đề Trước tiên cần khẳng định rằng “vấn đề Biển Đông” mà tôi nhắc tới trong luận văn này là một khái niệm đa nghĩa, nó bao hàm cả ý nghĩa về mặt địa lý (vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên); về chính trị (tranh chấp chủ quyền, quan hệ quốc tế); các khái niệm liên ngành (địa chiến lược, địa chính trị)…vv. Theo đó, vấn đề Biển Đông là một vấn đề lớn, bao trùm, cụ thể như sau: - Xét ở góc độ các quan hệ quốc tế thì chúng ta cần phân loại ra rằng: + Toàn bộ Biển Đông nói chung là vấn đề quốc tế phức tạp.
+ Quần đảo Hoàng Sa là tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc, Đài Loan (2 nước, 3 bên). + Quần đảo Trường Sa là tranh chấp giữa 5 nước, 6 bên trong khu vực, bao gồm: Trung Quốc, Việt Nam, Ma-lai-xi-a, Bru-nây, Phi-líp-pin và Đài Loan. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, tranh chấp các vùng biển 1.
Tranh chấp chủ quyền các đảo, quần đảo Trên biển Đông có hai quần đảo lớn nhất, đó là quần đảo Hoàng Sa (tên quốc tế là Paracel Islands, Trung Quốc gọi là Tây Sa) và quần đảo Trường Sa (tên quốc tế là Spratly Islands, Trung Quốc gọi là Nam Sa). Xung quanh vấn đề chủ quyền của hai quần đảo này này sinh nhiều mâu thuẫn, tranh chấp phức tạp. a) Trên quần đảo Hoàng Sa Quần đảo Hoàng2 Sa nằm trong khoảng vĩ độ 150 45‟ đến 170 15‟ Bắc, kinh độ 1110 đến 1130 Đông. Hoàng Sa là một quần đảo nằm án ngữ ngang cửa vào của vịnh Bắc Bộ, cách đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré) hơn 120 hải lý, hòn đảo ở gần đảo Hải Nam (Trung Quốc) nhất cũng cách khoảng 140 hải lý.
Quần đảo Hoàng Sa gồm trên 30 hòn đảo, đá, cồn san hô, bãi cát nằm rải trên một vùng biển rộng từ Tây sang Đông khoảng 100 hải lý, từ Bắc xuống Nam khoảng 85 hải lý, chiếm diện tích biển khoảng 15000 km2 [16, tr. Có thể khẳng định rằng, tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa là tranh chấp giữa hai nước (Trung Quốc và Việt Nam), ba bên ( trong đó Đài Loan lấy danh nghĩa của Trung Hoa Dân Quốc cũng tuyên bố chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa). Việt Nam là quốc gia đưa ra được nhiều bằng chứng chứng minh chủ quyền hợp pháp của mình trên quần đảo Hoàng Sa, bằng rất nhiều tài liệu lịch sử có giá trị và thuyết phục.