phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm các chƣơng chính sau: Chƣơng 1: Môi trường sinh kế của người Mường ở Hiền Lương Tập trung phõn tớch cỏc nguồn lực tự nhiờn và nguồn lực xó hội tạo thành mụi trƣờng sinh kế của ngƣời Mƣờng trƣớc và sau tái định cƣ. Sự khác nhau về môi trƣờng sinh kế cũng đƣợc làm nổi rừ để nêu bật tính quyết định của nó đối với cách thức kiếm sống của ngƣời Mƣờng. Chƣơng 2: Những biến đổi sinh kế của người Mường ở Hiền Lương Tập trung phõn tớch những cỏch thức kiếm sống của ngƣời Mƣờng trƣớc và sau tái định cƣ, và mối liên quan mật thiết của nó với môi trƣờng sinh kế. Tính chất của nền kinh tế của ngƣời Mƣờng trong từng thời đoạn cũng đƣợc làm rừ với những biến đổi và nguyên nhân của sự biến đổi.
Chƣơng 3: Những thớch ứng về mặt văn hóa với sinh kế mới Sơ lƣợc trỡnh bày những biến đổi về mặt thiết chế xó hội: xúm/bản, dũng họ, gia đỡnh và những biến đổi chính trong lối sống của ngƣời Mƣờng do sự thay đổi của sinh kế và một số yếu tố khác. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I MÔI TRƢỜNG SINH KẾ CỦA NGƢỜI MƢỜNG Ở HIỀN LƢƠNG 1. Môi trƣờng sinh kế của ngƣời Mƣờng ở Hiền Lƣơng trƣớc tái định cƣ 1. Môi trường tự nhiên Xƣa Hiền Lƣơng là một xó nằm ven sụng Đà, nơi có con suối Hiền Lƣơng chảy qua trƣớc khi đổ ra sông Đà.
Trƣớc khi nƣớc sông Đà dâng cao, Hiền Lƣơng đó cú địa hỡnh hiểm trở và khỏ đa dạng, có núi cao rừng rậm kéo dài từ Toàn S lờn giỏp Tu Lý và vũng về xó Cao S tạo nờn một thung lũng lũng chảo rộng lớn dài 8km và hàng chục thung lũng nhỏ xen kẽ bởi các dải núi và đồi thấp nhấp nhô liên tiếp nhau. Núi đồi của Hiền Lƣơng có độ cao trung bỡnh 300m so với mặt nƣớc biển, có độ dốc lớn. Ngoài ra cũn cú nhiều bưa bói khỏ rộng nhƣ: bƣa Chiềng, bƣa Doi, bƣa Dƣng v. Đó là những cánh đồng lúa lớn của Đà Bắc Về tài nguyên đất, trƣớc ngày ngăn sông Đà, Hiền Lƣơng có 4546 ha rừng và đất rừng, 348ha đất trồng lúa nƣớc và 320,6 ha đất màu.
Rừng của Hiền Lƣơng trƣớc đây nằm trong hệ thống núi rừng kéo dài từ thị xó Hũa 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bỡnh lờn S La, Lai Chõu, cú tớnh chất của một loại rừng già, tồn tại lâu dài qua nhiều thế hệ. Ở đây có nhiều loại cây cổ thụ cao 30 – 40m mà 2,3 ngƣời ôm không xuể, nhiều loại gỗ quý nhƣ Lim, Sáu, Nghiến, Trũ, Chỉ… cú giỏ trị kinh tế cao. Ngoài ra, rừng Hiền Lƣơng cũn rất nhiều bƣơng, tre, nứa, giang, vầu và nhiều loại dƣợc liệu quý v.v… Ngoài diện tớch rừng, Hiền Lƣơng có hàng ngàn hecta đất rừng ở trên độ cao 100m và nhân dân địa phƣơng đó tận dụng đất này để trồng thêm các cây ăn quả và cây màu khác. Khí hậu của Hiền Lƣơng trƣớc ngày ngăn sông Đà cơ bản không thay đổi nhiều so với hiện tại, trong cảm nhận của nhiều ngƣời dân ở đây thỡ khớ hậu trƣớc kia nóng hơn.
Trƣớc khi xây dựng hồ Thủy điện Hũa Bỡnh, điều kiện tự nhiên của Hiền Lƣơng nói chung và 5 xóm đƣợc khảo sát nói riêng có nguồn lực đất, nƣớc, khí hậu phự hợp với việc sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa nƣớc và chăn nuôi gia cầm, gia súc. Môi trường xó hội Hiền Lƣơng vốn là một miền đất cổ đƣợc hỡnh thành từ lõu đời. Năm 1983, các nhà khảo cổ học khai quật, tỡm thấy một chiếc trống đồng cùng nhiều hiện vật nhƣ: lƣỡi rỡu, lƣỡi búa và những công cụ lao động khác bằng đá, bằng đồng… Điều đó chứng minh rằng ngay từ thời đại xa xƣa, Hiền Lƣơng là một điểm sinh tụ của ngƣời Mƣờng, Trải qua hàng ngàn năm biến thiên của lịch sử, vùng đất Hiền Lƣơng có nhiều đổi thay. Theo sự truyền miệng, vào thế kỷ 15, cách đây khoảng 500 năm, đồng bào Thổ Thái thuộc dũng họ Xa ở Mộc Chõu, Quy Đức, Đức Nhàn di cƣ về nơi đây phát rừng, ở đây đầu tiên và lập thành những chũm xúm ở ven nỳi ven rừng, Tiếp theo là nhõn dõn Phỳ Thọ, Hũa Bỡnh đến vùng này với ƣớc mơ “an cƣ lạc nghiệp”.
Và sau đó là dân vùng Cao Phong, Thạch Yên đoạn tuyệt với bọn lang đạo địa phƣơng chạy đến Hiền Lƣơng cầu mong một cuộc sống yên lành v.v…Bởi vậy tên gọi Hiền Lƣơng dần dần hỡnh thành, nú gắn liền với quỏ trỡnh sinh cơ lập nghiệp mang đậm bản sắc, tâm niệm của nhân dân lao động tới xây dựng cuộc sống. Theo dũng lịch sử, dõn cƣ ngày một đông và họ lập thành các bản, các xóm với những tên gọi: Dƣng, Mơ, Doi, Chiềng, Ké; các xóm ở trên núi: Ang, Mái, Ngù đƣợc hỡnh thành sau. Lỳc đó, mỗi xóm chỉ khoảng năm bảy hộ với vài chục nhân khẩu. Người Mường ở Hiền Lương dưới chế độ lang đạo, thực dân phong kiến Trƣớc năm 1945, xó Hiền Lƣơng có 1 lang cun và 5 lang đạo.
Lang cun cai quản chung cả vùng, lang đạo chia nhau cai quản các xóm: Doi, Dƣng, Mơ, Chiềng, Ké. Bốn xóm: Ang, Gấu, Ngù, Mái không có lang mà do một lang đạo ở xóm khác cai quản, cho nên đƣợc gọi là đất thín. Lang đạo ở Hiền Lƣơng có một hệ thống giúp việc bao gồm: trựm xó, cai hầu, cai điền, giản thủ, cai nhưng, ậu bô v.v… Hệ thống giỳp việc này làm cỏc nhiệm vụ: bảo vệ 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trị an, trụng coi việc hầu hạ, ruộng đất, thuế má, đóng giúp cho lang, giúp lang trong việc đốc thuế, phu phen, tạp dịch. Cõu ca Đất có lang như làng có đạo đó trở thành ý niệm sâu sắc của mỗi ngƣời dân Mƣờng nói riêng và ngƣời Mƣờng ở Hiền Lƣơng nói chung.
Bởi vậy, khi tới Hiền Lƣơng sinh cơ lập nghiệp, sau một thời gian, nhân dân tổ chức lên Mộc Châu, cầu mong ở quan lang một sự chở che, do đó lang ở Hiền Lƣơng là lang chiờu, dân có thể bỏ lang này và đi đón lang khác về, nên chế độ lang đạo ở Hiền Lƣơng không hà khắc nhƣ lang Mƣờng Bi, Mƣờng Vang, Mƣờng Thàng, Mƣờng Diềm v.v …Chế độ lang đạo ở Hiền Lƣơng vẫn quy định: dân trong vùng phải cày sâu, cấy nỗ, phải thay nhau đến phục dịch hầu hạ cho nhà lang. Khi lang có việc lớn nhƣ ma chay, cƣới xin, làm nhà v.v… dân phải đóng góp cho lang theo đầu ruộng. Ngƣời dân cƣới vợ, gả chồng cho con phải biếu lang một mâm cỗ đầy đủ thịt, xôi, một vai lợn hoặc một đùi trâu hay đùi bũ. Ai khụng làm bị coi là vi phạm lệ làng và bị phạt vạ.
Khi thực dân Pháp xâm lƣợc nƣớc ta, ở Hiền Lƣơng chúng vẫn duy trỡ chế độ lang đạo. Tiêu biểu cho quan lang ở Hiền Lƣơng là Xa Văn Lƣợng (xóm Doi), gia đỡnh này 2 đời làm quan lang kiêm chánh tổng Hỡền Lƣơng. Trong nhà ông Lƣợng luôn có từ 1 đến 3 ngƣời hầu hạ, phục vụ. Toàn xó cú 72 ha ruộng cấy nƣớc thỡ lang Lƣợng chiếm 7,5ha loại tốt nhất, bắt dõn cày sõu, cấy nừ.
Năm 1937, Xa Văn Lƣợng đƣợc phong hàm Phó Tuần châu Mai Đà và đƣợc coi là một trong những tay chõn tớch cực phục vụ trong bộ máy chính quyền thuộc địa lúc đó. Sống trong chế độ thực dân phong kiến lang đạo, ngƣời dân lao động phải làm lụng vất vả quanh năm mà vẫn đói nghèo. Trƣớc năm 1945, trung bỡnh mỗi năm một hộ dân phải đi hầu hạ, cày sâu, cấy nừ… khụng cụng cho nhà lang 120 ngày, mỗi khi lang có việc cƣới xin, việc tang thỡ cứ 100 mạ dõn phải góp cho lang từ 1 đến 2 đồng (giá một con trâu lúc đó chỉ có 6 đồng), mỗi hộ phải góp 1 yến gạo và 5 lít rƣợu ngon. Khi thực dân Pháp ổn định bộ máy tổng lý kỳ hào trờn đất Hũa Bỡnh thỡ nhõn dõn Hiền Lƣơng phải đóng thêm 3 loại thuế chính: thuế đinh, thuế điền và thuế thổ trạch.
Thuế đinh là loại thuế đánh theo đầu ngƣời từ 18 tuổi trở lên; thuế thổ trạch đánh theo đầu nóc nhà. Và thuế đinh mỗi ngƣời phải đóng 1,5 đồng/năm. Toàn xó phải đóng thuế điền 300đ/năm, thuế thổ trạch mỗi nóc nhà đóng 100đ/năm. Trên thực tế bọn tổng lý, lang đạo bổ theo đầu ngƣời và theo hộ dân, nhiều khi cũn phự thu lạm bổ bắt ngƣời dân phải gánh chịu.
Cũn bọn chỳng thỡ thả sức vơ vột. Ngoài ra nhõn dõn cũn phải đi phu cho bọn thực dõn, chủ yếu là lờn rừng chặt gỗ, bƣơng, tre nứa mang lên châu lị tại Chờ Bờ theo yêu cầu từng đợt của quan trên. Tính riêng năm 1937, dân Hiền Lƣơng phải đi phu cho bọn thực dân hàng chục lần, mỗi lần 50 nhân 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com công khỏe đi trong vũng nửa thỏng. Sống dƣới chế độ thực dân phong kiến lang đạo, 100% nhân dân lao động Hiền Lƣơng bị mù chữ.
Đến năm 1937 cả Tổng mới có 1 trƣờng hƣơng đặt tại xóm Dƣng chuyên dành cho con em tổng lý kỳ hào. Năm 1942, do không có học sinh, trƣờng này phải chuyển lên Hào Tráng. Từ thủa xa xƣa khi mới tới vùng đất màu mỡ này, nơi đây cũn là nỳi rừng rậm rạp và nhiều thỳ dữ, những tập đoàn ngƣời từ tứ phƣơng quy lại, họ đó quõy quần bờn nhau, chung lƣng đấu cật, đồng cam cộng khổ, chia sẻ ngọt bùi, chống chọi với thú dữ, vật lộn với thiên nhiên để xây dựng cuộc sống. Trong quá trỡnh lao động và đấu tranh ấy, một sức sống kỳ diệu đó đƣợc hỡnh thành ở mỗi con ngƣời Hiền Lƣơng: cần cù, dũng cảm, đoàn kết, tự tin, trƣớc khó khăn không nản, trƣớc hiểm nguy không sờn.
Sức sống kỳ diệu ấy làm cho họ gắn bó với quê hƣơng, thiết tha với cuộc sống trên mảnh đất thấm bao nhiêu mồ hôi xƣơng máu của tổ tiên và từ đó hỡnh thành tỡnh yờu quờ hƣơng đất nƣớc, kiên quyết bảo vệ thành quả lao động mà chính bàn tay khối úc làm ra, kiên quyết chiến đấu với kẻ thù khi chúng đụng tới quê hƣơng đất nƣớc. Ngƣời dân địa phƣơng vẫn kể lại rằng vào cuối thế kỷ 19, khi bọn giặc Cờ Đen - tàn quân Thái Bỡnh Thiờn Quốc từ phƣơng Bắc tràn xuống nƣớc ta, chúng đó quấy phỏ nhiều nơi trên đất Hũa Bỡnh. Chỳng đó kộo vào Hiền Lƣơng và ở lại xóm Dƣng, rồi cƣớp bóc tàn phá quanh vùng. Nhân dân Hiền Lƣơng đó đoàn kết đồng lũng, tổ chức lực lƣợng dùng súng kíp bắn lại chúng.