CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trong chương này, chúng tôi sẽ giới thiệu tổng quan tình hình nghiên cứu về TĐC bắt buộc do các dự án phát triển và vấn đề về sinh kế/biến đổi sinh kế của người dân sau TĐC trên thế giới, cụ thể sẽ trình bày những lý thuyết nghiên cứu chính cũng như các cách tiếp cận đang được các học giả sử dụng. Chúng tôi cũng chỉ ra những điểm mạnh và điểm yếu của từng lý thuyết nghiên cứu, cách tiếp cận và khoảng trống trong nghiên cứu về sinh kế của người dân sau TĐC. Tương tự, phần tổng quan tình hình nghiên cứu về sinh kế/biến đổi sinh kế của người dân TĐC thủy điện ở Việt Nam và thủy điện Hòa Bình cũng được phân tích để chỉ ra những thành tựu cũng như những khoảng trống cần được bổ sung. Từ phần tổng quan tài liệu này, chúng tôi xác định được nội dung, lý thuyết, phương pháp nghiên cứu được vận dụng trong luận án.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Vấn đề tái định cư bắt buộc trong các công trình thủy điện TĐC thực chất là một hình thức di dân.
TĐC được hiểu là con người phải tạo dựng lại cuộc sống mới sau khi phải di dời khỏi nơi cư trú cũ của họ (CODE 2011b; tr. Di dân TĐC thường được phân thành hai loại từ quan điểm của những người lập chính sách là di dân tự nguyện và di dân không tự nguyện. TĐC không tự nguyện được hiểu là TĐC xảy ra khi bản thân các hộ gia đình quyết định di chuyển không vì các lý do của chính bản thân họ. TĐC không tự nguyện xảy ra khi triển khai các dự án phát triển, do thiên tai, do chiến tranh.
TĐC các công trình thủy điện, thủy lợi là thuộc loại di TĐC bắt buộc/không tự nguyện do các dự án phát triển và có nhiều đặc điểm khác với các loại TĐC không tự nguyện do các nguyên nhân khác. TĐC bắt buộc gây ra nhiều biến đổi trong cuộc sống của người dân sau đấy, trong đó có sinh kế, và có thể coi biến đổi là một hằng số của TĐC.1 Các mô hình lý thuyết nghiên cứu về tái định cư bắt buộc TĐC bắt buộc bởi các dự án phát triển, được quan tâm nghiên cứu nhiều do nó xảy ra ở mọi nơi trên thế giới và số người bị ảnh hưởng lớn nhất. Theo ước tính của Cernea (1990), ở Trung Quốc và Ấn Độ số người phải di cư vì các con đập trong vòng 50 năm là từ 20 – 30 triệu người. Lúc đầu, các nghiên cứu về loại hình TĐC bắt buộc sử dụng chung lý thuyết với những nghiên cứu về người tị nạn, sau đó phát triển thành 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những lý thuyết riêng nhờ những nghiên cứu thực địa từ khắp nơi trên thế giới về chủ đề này.
*Mô hình lý thuyết 4 giai đoạn của Scudder và Colson Lý thuyết liên quan đến TĐC bắt buộc đầu tiên được xây dựng năm 1982 bởi Scudder và Colson. Qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung, mô hình này được hoàn chỉnh, gồm 4 giai đoạn: tìm kiếm – chuyển đổi – phát triển – hội nhập. Mô hình này tập trung vào những căng thẳng của người TĐC và những hành vi phản ứng cụ thể của họ trong từng giai đoạn. Ban đầu mô hình này được xây dựng để áp dụng đối với các quá trình định cư tự nguyện, sau đó Scudder mở rộng mô hình này cho một số quá trình TĐC bắt buộc, nhưng chỉ là những quá trình TĐC bắt buộc đã thành công và hoàn tất cả 4 giai đoạn.
Mô hình này đã được nhiều lần áp dụng trong nghiên cứu TĐC, cung cấp những hiểu biết quan trọng và đưa ra những khuyến nghị chính sách. TĐC không thành công không được mô hình hóa trong lý thuyết của Scudder và Colson. Tuy nhiên, những minh chứng từ trên khắp thế giới cho thấy rằng các chương trình TĐC bắt buộc phần lớn là thất bại. Chính Scudder (2005) đã làm một cuộc cuộc khảo sát về đời sống của người dân sau TĐC ở 50 dự án thủy điện trên toàn thế giới và kết quả là 36 trường hợp (chiếm 82% tổng số trường hợp được khảo sát), đời sống người dân bị bần cùng hóa so với trước khi bị di chuyển và chỉ 7% trường hợp mức sống của người dân được cải thiện1.
Do vậy, mô hình 4 giai đoạn trên dần bị thay thế bởi các mô hình lý thuyết khác. *Mô hình lý thuyết IRR của Cernea Mô hình IRR (Impoverishment risks and reconstruction model) – mô hình rủi ro bần cùng hóa và tái thiết của Cernea (1997) đã đưa ra 8 nguy cơ rủi ro có thể xảy ra bởi TĐC không tự nguyện, đó là: không có đất (sự chiếm đoạt vốn đất), thất nghiệp (thậm chí ở cả những dự án có đưa lại vài công việc mới), vô gia cư (mất nhà, không chỉ là ngôi nhà hiện hữu về vật chất, mà là một gia đình, một không gian văn hóa), bị lề hóa (lạc hậu cả về kinh tế và tinh thần), thức ăn hạn chế hay không đủ dinh dưỡng (lượng calo trung bình mỗi ngày thấp, bị suy nhược), tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao, mất quyền truy cập vào các tài sản và dịch vụ chung (rừng, nguồn nước, đất chăn thả vốn bổ sung thức ăn và thu nhâp cho những người nghèo), cộng đồng bị chia cắt. Từ những nguy cơ rủi ro này, chiến lược tái thiết được thực hiện dựa trên sự đảo chiều 1 http://people.edu/~tzs/50%20Dam%20Survey.pdf 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những nguy cơ trên. Mô hình này cũng tích hợp trong nó tất cả sự hiểu biết về các nguồn vốn, và khẳng định rằng, trong quá trình TĐC bắt buộc, người dân bị mất vốn dưới tất cả các hình thức của nó.
Mô hình này có chức năng dự đoán, chuẩn đoán (đánh giá và giải thích), hướng dẫn lập kế hoạch và xây dựng giả thiết để giảm thiểu các rủi ro. Những nghiên cứu thực địa về TĐC bắt buộc trên thế giới đều có thể được khái quát hóa trong mô hình IRR. Để TĐC thành công, mô hình này đòi hỏi phải có sự tham gia của người dân ở cấp cao nhất và sự minh bạch về thông tin và có cơ chế rõ ràng trong quá trình truyền, nhận và xử lý thông tin để nâng cao năng lực giải trình của các cơ quan chức năng, cũng như tránh những xung đột có thể xảy ra. Mô hình này đưa ra các nội dung kinh tế - xã hội của cả hai sự kiện di dời và khôi phục sinh kế.
Các học viên và các nhà nghiên cứu có thể sử dụng mô hình này như là một công cụ chuẩn đoán – chuẩn đoán các vấn đề mà di cư bắt buộc có thể đưa lại; - công cụ tiên đoán – cung cấp những cảnh báo về những tác dụng phụ xảy ra trước khi di dời; - công cụ giải quyết vấn đề: hướng tới hành động; - công cụ hướng dẫn nghiên cứu: nó có thể được sử dụng như một khung khái niệm cho sự hình thành giả thuyết. Mô hình IRR của Cernea được cho là có ảnh hưởng nhất đến nghiên cứu TĐC hiện đại vì nó đưa ra một cơ sở quan trọng cho việc phân tích TĐC không tự nguyện và cho phép những người thực hiện nghiên cứu trong lĩnh vực này thảo luận và tranh luận về các vấn đề di dời không tự nguyện một cách có hệ thống. Tuy nhiên hạn chế của cách tiếp cận này là Cernea tập trung quá mức vào bối cảnh thể chế, dùng thể chế để đánh giá những rủi ro và đưa ra các biện pháp can thiệp mà chưa chú ý rằng, ngoài bối cảnh thế chế còn có nhiều yếu tố khác để giải thích nguyên nhân những rủi ro bần cùng hóa cũng như cách thức thoát khỏi những rủi ro đó. Sự đa dạng trong việc giải thích các nguyên nhân bần cùng hóa cũng như sự đa dạng của các biện pháp thoát khỏi nó, ví dụ như bằng những nhân tố văn hóa, vị trí địa lý, đặc điểm cá nhân và hộ gia đình.
chưa được chú ý đúng mức trong mô hình này (Melissa Quetulio – Navarra, 2014). Trong việc áp dụng mô hình IRR này vào nghiên cứu, phần lớn các tác giả chỉ chú ý đến các rủi ro đầu tiên là mất đất, thất nghiệp, vô gia cư, mất quyền truy cập vào các tài sản và dịch vụ chung mà chưa chú ý đến rủi ro cộng đồng bị chia cắt và hậu quả của nó (Phạm Hữu Tý, 2015). *Lý thuyết gián đoạn văn hóa tâm lý xã hội (theory about the psycho – socio – cultural disruprtion) của Downing và Garcia – Downing (mô hình lý thuyết R-D-R’) 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một lý thuyết khác bắt nguồn từ sự băn khoăn của Theodore E. Downing và Carmen Garcia – Downing (2009) là liệu sự chú ý quá mức và những khía cạnh kinh tế của TĐC có bỏ qua những vấn đề cốt yếu trong văn hóa có thể giảm thiểu nguy cơ bần cùng hóa do TĐC gây ra?.
Từ đây, Theodore và Carmen Garcia (2009) đã phác thảo một lý thuyết để nghiên cứu văn hóa tâm lý xã hội của cộng đồng bị di chuyển bắt buộc trong một bài nghiên cứu ngắn. Đây là một bài viết mang tính lý thuyết, có minh họa bằng những nghiên cứu của các tác giả khác. Trong bài viết này, các tác giả cho rằng, TĐC bắt buộc đã chuyển đổi nền văn hóa quen thuộc sang một nền văn hóa đối nghịch/xa lạ và sau một thời gian, một nền văn hóa quen thuộc gần giống như trước được hình thành (mô hình R-D-R’: Routine – Dissonant - Routine’ (tạm dịch: quen thuộc – đối nghịch – quen thuộc’)). Các tác giả nhấn mạnh, nền văn hóa quen thuộc sau TĐC, nếu được tái lập sớm có thể giúp giải quyết những những căng thẳng gây ra do sự di chuyển.
Và vấn đề chúng ta cần làm là tạo điều kiện để văn hóa quen thuộc mới được thiết lập nhanh chóng. Điều này sẽ giúp giảm thiểu các vấn đề về bần cùng hóa văn hóa, tâm lý xã hội cũng như tăng cường năng lực về văn hóa và xã hội cho những người di chuyển. Các tác giả cho rằng những rủi ro về văn hóa, tâm lý xã hội có thể nhìn thấy ở mọi nơi: trong cuộc sống khó khăn, việc tổ chức lại các mối quan hệ xã hội, những tài sản kinh tế và xã hội bị mất, những người đứng đầu bị lật đổ, mọi người (đặc biệt là người già) trở nên ốm yếu, năng lực chống lại những đe dọa từ bên ngoài bị giảm. Tuy nhiên những thông tin này lại không tiết lộ những động lực nằm bên dưới để có thể giảm thiểu chúng.