Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử chuyên ngành Dân tộc học (Nhân học), mã số 62 22 70 01, với đề tài "Sự biến đổi kinh tế – xã hội của người Thái ở Điện Biên từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay" được nghiên cứu sinh Pichet Saiphan (người Thái Lan) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hoàng Lương và PGS. Lê Sỹ Giáo tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, bảo vệ năm 2011.
| Thông tin tổng quan | Nội dung chi tiết |
|---|---|
| Đề tài luận án | Sự biến đổi kinh tế – xã hội của người Thái ở Điện Biên từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay |
| Nghiên cứu sinh | Pichet Saiphan |
| Chuyên ngành / Mã số | Dân tộc học / 62 22 70 01 |
| Học vị bảo vệ | Tiến sĩ Lịch sử |
| Người hướng dẫn khoa học | 1. PGS. Hoàng Lương 2. PGS. Lê Sỹ Giáo |
| Cơ sở đào tạo | Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội |
| Năm hoàn thành | 2011 |
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Nghiên cứu về người Thái ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á đã thu hút sự chú ý của giới học giả quốc tế từ lâu. Kể từ thập niên 80 của thế kỷ XX, chuyên ngành Thái học (Thai Studies) đã phát triển thành một lĩnh vực khoa học mang tính quốc tế, thể hiện rõ nét qua chuỗi các Hội thảo quốc tế về Thái học từ Hội thảo lần thứ I (1981) đến Hội thảo lần thứ X (2008). Tại Việt Nam, nghiên cứu Thái học là chủ đề thu hút nhiều ngành khoa học, viện nghiên cứu và được giảng dạy chuyên đề tại bộ môn Dân tộc học thuộc Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội trước đây và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn hiện nay.
Người Thái là một trong 54 dân tộc tại Việt Nam có truyền thống lịch sử lâu đời và đóng góp quan trọng trong tiến trình lịch sử dựng nước, giữ nước, tiêu biểu là sự gắn liền với địa danh thung lũng Mường Thanh và chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954. Sau năm 1954, đặc biệt từ thời điểm đất nước bước vào công cuộc Đổi mới năm 1986, Điện Biên bước vào giai đoạn biến đổi căn bản trên các phương diện kinh tế, văn hóa và xã hội dưới tác động của công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về người Thái ở Tây Bắc, Thanh Hóa hay Nghệ An, việc nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về sự biến đổi kinh tế – xã hội của người Thái tại chính vùng đất Điện Biên trong thời kỳ hiện đại và giai đoạn Đổi mới vẫn chưa được thực hiện đầy đủ. Luận án được xây dựng nhằm giải quyết khoảng trống này từ góc nhìn dân tộc học của một học giả người Thái Lan.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án tiếp cận khái niệm kinh tế – xã hội theo hướng nghiên cứu sự biến đổi về mặt kinh tế dẫn đến những biến đổi về mặt xã hội (không nghiên cứu sự biến đổi hình thái kinh tế – xã hội hay tách rời hai yếu tố kinh tế và xã hội). Luận án xác định 3 mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu tiến trình lịch sử của người Thái ở vùng Điện Biên từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay.
- Làm rõ tình hình kinh tế – xã hội trước khi có Đổi mới, thực trạng và tiền đề dẫn tới sự đổi mới cùng những biến đổi cụ thể về kinh tế – xã hội ở Điện Biên.
- Nghiên cứu quá trình đô thị hóa đồng thời là các bước phát triển và biến đổi ở thành phố miền núi Điện Biên, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho các vùng miền núi khác.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các đặc điểm của kinh tế – xã hội truyền thống của người Thái trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945; sự biến đổi dưới tác động của xã hội mới sau năm 1945; quá trình phát triển của Điện Biên trong tiến trình đô thị hóa và sự thay đổi lối sống trên các phương diện xã hội, kinh tế, văn hóa từ thời kỳ Đổi mới đến nay.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu điểm tập trung tại 2 địa bàn đặc trưng thuộc tỉnh Điện Biên:
- Phường Him Lam (thành phố Điện Biên Phủ): Địa bàn trung tâm, đại diện cho khu vực đang trải qua quá trình đô thị hóa mạnh mẽ.
- Xã Thanh Luông (huyện Điện Biên): Địa bàn cư trú lâu đời của người Thái, là vùng giáp ranh giữa nông thôn và đô thị, chịu tác động của kinh tế thị trường và quá trình di dân của người Kinh.
- Để phục vụ so sánh, luận án mở rộng khảo sát sang một số xã khác trong huyện Điện Biên và khảo sát thêm một số hộ gia đình người Kinh nhằm phân tích mối quan hệ tộc người Kinh – Thái.
- Phạm vi thời gian: Trọng tâm từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến thời điểm nghiên cứu (với nguồn tài liệu điền dã thu thập giai đoạn 2003–2007).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng kết một khối lượng tư liệu học thuật phong phú qua các thời kỳ lịch sử liên quan đến người Thái:
Nguồn tư liệu sử thi và thư tịch phong kiến
- Tác phẩm sử thi dân gian Thái: Các công trình chữ Thái Đen cổ như "Quám tố mương" (Kể chuyện bản mường) và "Táy Pú Xớc" (Theo đường chinh chiến của ông cha) cung cấp các ghi chép về các cuộc thiên di, nguồn gốc bản mường và tổ tiên dòng họ Lò Cầm.
- Thư tịch thời phong kiến Việt Nam:
- Nguyễn Trãi trong "Dư địa chí" đề cập đến các địa danh cư trú của người Thái.
- Lê Quý Đôn trong "Kiến văn tiểu lục" mô tả hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, tài nguyên khoáng sản và thổ sản vùng lòng chảo Mường Thanh.
- Hoàng Bình Chính với "Hưng Hóa xứ phong thổ lục" và Phạm Thận Duật với "Hưng Hóa ký lược" cùng các ghi chép khi ông làm Tri châu Tuần Giáo đã miêu tả chi tiết về phong tục tập quán, ngôn ngữ, văn tự Thái Đen và vùng đất Mường Thanh (phủ Điện Biên).
Các công trình thời kỳ Pháp thuộc
Các tác giả người Pháp đã thu thập tư liệu về ngôn ngữ, địa lý và dân cư người Thái tại Việt Nam:
- Edouard Diguet (1895): "Etude de la Langue Thaï" (Nghiên cứu về ngôn ngữ Thái).
- Le Breton (1918): "La Province de Thanh Hoa" (Tỉnh Thanh Hóa).
- Charles Robequain (1929): "Le Thanh Hoa" (Tỉnh Thanh Hóa).
Các công trình của học giả Việt Nam từ năm 1945 đến nay
- Lịch sử – xã hội và thiết chế bản mường:
- Đặng Nghiêm Vạn với các nghiên cứu: "Sơ lược về sự thiên di của các bộ tộc Thái vào Tây Bắc Việt Nam" (1965), "Quá trình hình thành các nhóm Tày - Thái Việt Nam" (1967).
- Nhóm tác giả Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên), Cầm Trọng, Khà Văn Tiến, Tòng Kim Ân (1977): "Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái" (Nxb Khoa học Xã hội).
- Đặng Nghiêm Vạn và Đinh Xuân Lâm (1979): "Điện Biên trong lịch sử" (Nxb Khoa học Xã hội) – công trình khảo cứu hệ thống lịch sử các dân tộc Điện Biên từ cổ đại.
- Cầm Trọng: "Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam" (1978), "Mấy vấn đề về lịch sử kinh tế xã hội cổ đại của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam" (1987), "Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam" (2005).
- Cầm Trọng và Kashinaga Masao (2003): "Danh sách tổ tiên họ Lò Cầm, Mai Sơn, Sơn La" (Nxb Thế Giới) – dịch và phân tích gia phả 22 đời tạo Thái Đen.
- Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng (1999): "Luật tục của người Thái ở Việt Nam" (Nxb Văn hóa Dân tộc) – phân tích cấu trúc xã hội và quản lý cộng đồng theo luật tục.
- Văn hóa vật chất, phong tục tập quán:
- Hoàng Nam và Lê Ngọc Thắng (1985): "Nhà Sàn Thái"; Nguyễn Duy Thiệu (2000): "Kiến trúc nhà sàn Thái".
- Lê Ngọc Thắng (1988, 1990): "Trang phục Thái với những chức năng xã hội" và "Nghệ thuật trang phục Thái".
- Phan Hữu Dật và Cầm Trọng (1995): "Văn hóa Thái ở Việt Nam".
- Hoàng Lương (1988, 2004, 2006): "Hoa văn Thái", "Luật tục với việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống một số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam", "Cư dân Tày-Thái cổ và cư dân Việt-Mường chung, hai người bạn láng giềng gần gũi từ thời cổ đại".
- Nguyễn Thị Thanh Nga (2001, 2003): Các nghiên cứu về nghề dệt truyền thống của người Thái ở Tây Bắc, Thanh Hóa, Nghệ An.
- Hoàng Anh Nhân (chủ biên, 1985): "Văn hóa truyền thống của người Ca Da" (vùng Quan Hóa, Thanh Hóa); Lê Sỹ Giáo với các công trình nghiên cứu người Thái ở Thanh Hóa.
- Nghiên cứu về kinh tế, nông nghiệp và địa bàn Điện Biên:
- Tạ Long và Ngô Thị Chính (2000): "Sự biến đổi nền nông nghiệp Châu Thổ – Thái Bình ở vùng núi Lai Châu" và bài viết "Biến đổi môi trường dưới tác động của các hệ nhân văn ở Điện Biên Lai Châu", khảo sát sự biến đổi sinh thái - nhân văn và chuyển đổi hình thức quản lý nông nghiệp từ hợp tác xã sang kinh tế hộ tại Mường Phăng.
- Trần Văn Bình (2001): "Tập quán hoạt động kinh tế của một số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam".
- Lương Thị Thu Hằng (2001): Luận văn thạc sĩ "Phụ nữ Thái Đen với việc bảo tồn văn hóa trong thời kỳ đổi mới (qua nghiên cứu ở xã Thanh Luông, Điện Biên, Lai Châu)".
- Các bài viết của Lò Văn Puôn (1999), Nguyễn Thanh Tùng (2003), Mạc Đường (2006) và các báo cáo tình hình kinh tế – xã hội của địa phương.
Các công trình của học giả quốc tế
- Georges Condominas (1990): "From Lawa to Mon from Saa to Thai".
- John T. McAlister (1967): "Mountain Minorities and the Viet Minh: A key to Indochina war".
- Jean Michaud (2000): "The Montagnards and the State in Northern Vietnam from 1802 to 1975: A Historical Overview".
- Thomas Sikor (1999): "The Political Economy of Decollectivization: A study of Differentiation in and among Black Thai Villages of Northern Vietnam" (nghiên cứu tại Sơn La).
- Guy Léontti (2004): "Lettres de Điện Biên Phủ".
- Sumitr Phitiphat (2004): "Người Thái Đen ở Việt Nam" (viết bằng tiếng Thái).
Vị trí của luận án
Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào lịch sử truyền thống, văn hóa dân gian, thiết chế bản mường cổ truyền của người Thái nói chung ở Tây Bắc hoặc Thanh Hóa - Nghệ An, hoặc chỉ nghiên cứu các khía cạnh kinh tế nông nghiệp đơn lẻ. Luận án của Pichet Saiphan là công trình chuyên khảo tập trung làm rõ bức tranh biến đổi kinh tế – xã hội mang tính hệ thống của người Thái ở vùng Điện Biên trong tiến trình lịch sử từ năm 1945 qua thời kỳ tập thể hóa đến thời kỳ Đổi mới và đô thị hóa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp các lý thuyết xã hội học, triết học và nhân học:
- Học thuyết Mác-xít: Vận dụng quan điểm chủ nghĩa duy vật lịch sử về sự vận động của các hình thái kinh tế – xã hội, vai trò của phương thức sản xuất và tính quyết định của sự phát triển lực lượng sản xuất đối với các chuyển biến cấu trúc xã hội.
- Lý thuyết của Max Weber: Nhấn mạnh vai trò của hệ tư tưởng và các giá trị luân lý tôn giáo như một động cơ dẫn dắt hành vi kinh tế và biến đổi xã hội (tiêu biểu trong tác phẩm "Đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản").
- Lý thuyết hệ thống xã hội của Talcott Parsons: Tiếp cận xã hội như một hệ thống tổng thể, trong đó tiểu hệ thống văn hóa giữ vai trò tích hợp, kiểm soát và chi phối các tiểu hệ thống khác khi xảy ra sự thay đổi khuôn mẫu và chuẩn mực.
- Lý thuyết tiến hóa xã hội và tiến bộ xã hội:
- Auguste Comte và Saint-Simon: Quan niệm về tiến bộ xã hội như quy luật vận động tất yếu hướng tới các trạng thái phức tạp hơn.
- Lewis H. Morgan và Herbert Spencer: Khái niệm tiến hóa xã hội (từ vô cơ, hữu cơ đến siêu hữu cơ; chuyển biến từ thuần nhất đơn giản sang không thuần nhất phức tạp).
- Lenski: Luận điểm về tốc độ biến đổi xã hội gia tăng tỷ lệ thuận với sự phát triển của nền tảng kỹ thuật.
- Khái niệm "Chậm trễ văn hóa" / "Lạc hậu văn hóa" (Cultural lags) của William F. Ogburn: Chỉ hiện tượng văn hóa vật chất (công nghệ, kỹ thuật, phương thức sản xuất) biến đổi nhanh hơn văn hóa tinh thần (tâm lý, lối sống, giá trị, chuẩn mực), tạo nên sự lệch pha và nảy sinh những xung đột nội tại trong giai đoạn chuyển đổi.
- Quan niệm nhân học và sinh thái văn hóa: Khái niệm "Không gian xã hội" (Espace social) của Georges Condominas; lý thuyết về mối quan hệ giữa con người và môi trường của André Leroi-Gourhan; định nghĩa phát triển của Liên Hợp Quốc và khái niệm cấu trúc - tổ chức xã hội trong Nhân học.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án là công trình nghiên cứu định tính thuộc chuyên ngành Dân tộc học/Nhân học, sử dụng phối hợp các phương pháp:
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Quan sát tham dự, phỏng vấn sâu cá nhân, phỏng vấn nhóm và khảo sát thực địa tại các hộ gia đình người Thái và người Kinh.
- Phương pháp lịch sử và logic: Dựng lại tiến trình biến đổi kinh tế – xã hội của địa phương qua các mốc thời gian lịch sử cụ thể (1945, 1954, 1975, 1986, 2004 đến nay).
- Phương pháp so sánh dân tộc học: So sánh giữa kinh tế – xã hội truyền thống và hiện đại; so sánh giữa hai địa bàn nghiên cứu (phường Him Lam đại diện cho đô thị và xã Thanh Luông đại diện cho vùng giáp ranh nông thôn); so sánh tộc người giữa người Thái và người Kinh.
- Phương pháp phân tích văn bản và xử lý tư liệu thứ cấp: Khai thác các nguồn thống kê, báo cáo kinh tế – xã hội của địa phương.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Nguồn tư liệu điền dã: Do chính tác giả trực tiếp thu thập trong các đợt khảo sát thực địa từ năm 2003 đến năm 2007 tại phường Him Lam (thành phố Điện Biên Phủ), xã Thanh Luông và một số xã lân cận thuộc huyện Điện Biên.
- Nguồn tư liệu lưu trữ hành chính: Các văn bản chỉ đạo, nghị quyết, báo cáo của Chính phủ, các bộ ngành trung ương và địa phương được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia và văn phòng Ủy ban Nhân dân các cấp tỉnh Điện Biên.
- Nguồn tư liệu thư tịch và tài liệu đã công bố: Các sách chuyên khảo, bài báo tạp chí khoa học trong và ngoài nước về dân tộc Thái và vùng đất Tây Bắc.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Chương 1 trình bày tổng quan môi trường tự nhiên, tiến trình lịch sử hành chính, đặc điểm dân cư và các ngành người Thái tại Điện Biên, cùng việc khảo sát chi tiết 2 địa bàn nghiên cứu điểm:
Đặc điểm tự nhiên, hành chính và dân cư Điện Biên
- Vị trí và địa bàn: Tỉnh Điện Biên có diện tích tự nhiên 9.542,289 km² (chiếm 2,89% diện tích cả nước), tọa độ 20°54' – 22°33' vĩ độ Bắc và 102°10' – 103°36' kinh độ Đông; giáp Lai Châu, Sơn La, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc - biên giới 38,5 km) và CHDCND Lào (biên giới 360 km). Tỉnh có 9 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố (Điện Biên Phủ), 1 thị xã (Mường Lay) và 7 huyện (Điện Biên, Điện Biên Đông, Mường Ảng, Mường Chà, Mường Nhé, Tủa Chùa, Tuần Giáo) với 21 dân tộc sinh sống.
- Thủy văn và khí hậu: Thung lũng Điện Biên (lòng chảo Mường Thanh) là cánh đồng lớn nhất Tây Bắc trong câu tục ngữ "Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc". Vùng này có hệ thống sông Nậm Rốm (lưu vực 500 km², 28 nguồn suối nhánh, tưới cho 3.371 ha lúa mùa và cây công nghiệp qua hệ thống đại thủy nông Điện Biên) và sông Nậm Núa.
| Khu vực so sánh | Mật độ dân số năm 2007 |
|---|---|
| Tỉnh Điện Biên | 49 người/km² |
| Vùng Tây Bắc | 69 người/km² |
| Cả nước | 254 người/km² |
Nguồn số liệu: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Điện Biên, năm 2007.
| TT | Thành phần dân tộc | Dân số (người) | Tỷ lệ (%) |
|---|---|---|---|
| 1 | Thái | 186.370 (186.969) | 39,57% |
| 2 | Khơ-mú | - | 3,50% |
| 3 | Kháng | 3.852 | - |
| 4 | Hà Nhì | 3.490 | - |
| 5 | Xinh-mun | 1.730 | - |
| 6 | Cống | 839 | 0,18% |
| 7 | Nùng | 782 | 0,17% |
| 8 | Các dân tộc khác (Dao, Hoa, Hmông, Kinh, Lào...) | 913 | 0,20% |
| Tổng cộng | Toàn tỉnh Điện Biên | 468.284 | 100,0% |
Nguồn số liệu: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Điện Biên, năm 2007.
Đặc điểm hai địa bàn nghiên cứu điểm
- Phường Him Lam (TP. Điện Biên Phủ): Diện tích 415,5 ha, có trên 1/3 diện tích là đất đồi; có hai cánh đồng Him Lam và Huổi Phạ, sông Nậm Rốm, suối và hồ Huổi Phạ. Tên gọi bắt nguồn từ tiếng Thái là "bản Hin Đăm" ("bản đá đen" trên sông Nậm Rốm), sau gọi chệch thành Him Lam.
- Xã Thanh Luông (huyện Điện Biên): Diện tích tự nhiên 4.010 ha (đất nông nghiệp và thổ cư 842 ha; 3.168 ha đất rừng và mặt nước), độ dốc 16°–20°. Xã có đường biên giới giáp Lào dài 10 km, nằm ở trung tâm cánh đồng Mường Thanh, có sông Nậm Rốm và suối Nậm Pe (với nguồn suối nước nóng Hua Pe).
Diễn tiến lịch sử tên gọi và hành chính Mường Thanh – Điện Biên
- Thời cổ - trung đại: Tên cổ nhất là Mường Then (Mường Thanh / Mãnh Thiên / Song Thanh: gồm Thanh Nưa và Thanh Tảư với thành cổ Viêng Xam Mứn của người Lự). Thuộc bộ Tân Hưng thời Hùng Vương; châu Lâm Tây thời Lý; châu Ninh Viễn thời Trần; châu Phục Lễ, trấn Gia Hưng thời Lê. Năm 1463 thuộc trấn Hưng Hóa (phủ An Tây). Thế kỷ XVIII là căn cứ khởi nghĩa của Hoàng Công Chất (thành Chiềng Lè).
- Thời Nguyễn: Năm 1775 đổi thành châu Ninh Biên (gồm 4 động: Phong Thanh, Cẩm Ba, Tiên Phong, Hiền Liên); năm 1777 thuộc phủ Yên Tây (gồm 12 mường nhỏ). Năm 1841 (Thiệu Trị nguyên niên), đổi tên phủ An Tây thành phủ Điện Biên theo đề nghị của Nguyễn Khắc Tuần; năm 1844 lập 2 tổng (Phong Thanh và Tiên Phong); năm 1848 phủ Điện Biên gồm 13 xã.
- Thời Pháp thuộc và hiện đại: Năm 1888 Pháp chiếm Điện Biên. Năm 1948 lập "Xứ Thái tự trị". Sau chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 07/5/1954, Sắc lệnh 134-SL (28/01/1953) lập Khu Tây Bắc. Tháng 4/1955 lập Khu tự trị Thái-Mèo; tháng 10/1962 đổi thành Khu tự trị Tây Bắc. Năm 1975 giải thể khu tự trị, nhập vào tỉnh Lai Châu (thủ phủ tại Mường Lay; sau trận lụt 1991 dời về thị xã Điện Biên). Ngày 01/01/2004, tỉnh Điện Biên chính thức được thành lập từ việc chia tách tỉnh Lai Châu cũ.
Khái quát về người Thái ở Điện Biên
Người Thái tự gọi là "Côn Tay" hoặc "Phủ Tay", gồm 2 ngành chính: Thái Đen ("Tay Đăm" – cư trú tại TP. Điện Biên Phủ, Tuần Giáo, Tủa Chùa, Mường Ảng, Điện Biên, Điện Biên Đông) và Thái Trắng ("Tay Khao/Đón" – cư trú tại Mường Lay, Mường Nhé, Mường Chà; chỉ có 1 bản Thái Trắng tại bản Na Pheo, Mường Mươn).
Nguồn gốc người Thái gắn liền với cư dân bản địa vùng Phùng Nguyên – Đông Sơn và các đợt thiên di cổ xưa từ Mường Lò về Mường Thanh dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh Lạn Chương (con Tạo Lò) vào khoảng thế kỷ X–XI, tạo lập dòng họ quý tộc Lò Cầm và đặt trung tâm tại Pom Lạn Chương (đồi A1). Năm 1067, Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận sứ bộ "Ngưu Hồng" và "Ai Lao" vào triều cống vua Lý Thánh Tông. Đến thế kỷ XV–XVI hình thành khối "Xíp hốc Châu Tay" (16 châu Thái).
Chương 2: Đặc điểm kinh tế – xã hội truyền thống của người Thái ở Điện Biên
Chương này tập trung tái hiện mô hình kinh tế – xã hội truyền thống của người Thái trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945:
- Kinh tế nông nghiệp lúa nước thung lũng: Canh tác ruộng nước lòng chảo dựa trên hệ thống tưới tiêu truyền thống ("mương, phai, lái, lịn"), kết hợp nông nghiệp nương rẫy trên sườn đồi, chăn nuôi gia súc gia cầm, săn bắn, hái lượm và các nghề thủ công truyền thống (dệt vải thổ cẩm, đan lát).
- Thiết chế xã hội bản mường cổ truyền: Cấu trúc xã hội phân tầng chặt chẽ giữa tầng lớp quý tộc thống trị (phìa, tạo, các dòng họ quý tộc như Lò Cầm) và tầng lớp dân bản ("côn hươn", "cuông", "nhuông"). Ruộng đất công của bản mường ("ruộng công bản mường") thuộc quyền sở hữu tối cao của chúa đất, nông dân nhận ruộng phải thực hiện nghĩa vụ đóng tô và lao dịch.
- Hệ thống luật tục Thái: Vai trò của các quy ước truyền miệng và thành văn trong việc điều chỉnh quan hệ xã hội, phân chia nguồn nước, bảo vệ rừng và duy trì trật tự cộng đồng bản mường.
Chương 3: Sự biến đổi kinh tế – xã hội dưới tác động của xã hội mới
Chương 3 phân tích tiến trình biến đổi từ sau năm 1945 đến trước thời kỳ Đổi mới:
- Xác lập quan hệ sản xuất mới sau năm 1954: Xóa bỏ giai cấp thống trị phong kiến bản mường, giải phóng người nông dân Thái khỏi quan hệ bóc lột tô dịch cũ, thực hiện cải cách ruộng đất và phân chia lại ruộng công.
- Thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp: Thành lập các hợp tác xã nông nghiệp từ những năm 1960. Nhà nước đầu tư xây dựng công trình đại thủy nông Điện Biên trên sông Nậm Rốm, thay đổi căn bản điều kiện tưới tiêu thung lũng Mường Thanh.
- Tác động của phong trào di dân khai hoang: Người Kinh từ các tỉnh đồng bằng (đặc biệt là Thái Bình, Nam Định, Hà Tây...) lên xây dựng vùng kinh tế mới tại Điện Biên, hình thành sự giao lưu kỹ thuật nông nghiệp thâm canh lúa nước đồng bằng kết hợp với kinh nghiệm bản địa của người Thái, làm thay đổi cơ cấu dân cư và không gian cư trú.
- Chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế: Quá trình chuyển từ hợp tác xã tập trung sang cơ chế khoán hộ (Khoán 100 năm 1981, Khoán 10 năm 1988) và công nhận kinh tế hộ gia đình tự chủ (sau Luật Đất đai năm 1993), tạo động lực giải phóng sức sản xuất nhưng đồng thời dẫn tới những biến đổi trong sử dụng đất nương đồi và môi trường sinh thái.
Chương 4: Đô thị hóa và sự thay đổi lối sống từ Đổi mới đến nay
Chương 4 tập trung vào thực trạng biến đổi từ sau mốc Đổi mới năm 1986 và sự thành lập thành phố Điện Biên Phủ (năm 2003), tỉnh Điện Biên (năm 2004):
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Sự chuyển đổi từ kinh tế thuần nông tự cung tự cấp sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần; nông nghiệp chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa gắn với thị trường; phát triển mạnh các ngành thương mại, dịch vụ, du lịch lịch sử và dịch vụ du lịch sinh thái (khu suối khoáng Hua Pe).
- Biến đổi cấu trúc gia đình và phân tầng xã hội: Gia đình hạt nhân ngày càng chiếm ưu thế thay cho gia đình lớn truyền thống; quan hệ giới thay đổi khi phụ nữ Thái tham gia ngày càng sâu vào các hoạt động kinh doanh buôn bán và quản lý xã hội; xuất hiện sự phân hóa giàu nghèo và phân tầng xã hội mới theo mức thu nhập và nghề nghiệp.
- Biến đổi lối sống và văn hóa vật chất tại Him Lam và Thanh Luông:
- Kiến trúc nhà ở: Sự xuất hiện của nhà xây gạch, nhà mái bằng bên cạnh hoặc thay thế dần nhà sàn truyền thống do quá trình đô thị hóa và khan hiếm vật liệu gỗ.
- Trang phục và sinh hoạt đời sống: Giới trẻ tiếp nhận trang phục và lối sống hiện đại, việc sử dụng trang phục truyền thống và chữ Thái cổ có xu hướng giảm trong sinh hoạt thường nhật.
- Biểu hiện của sự "chậm trễ văn hóa" (Cultural lags): Cơ sở hạ tầng, phương tiện kỹ thuật và kinh tế vật chất thay đổi nhanh chóng trong khi một số tập tục, nếp nghĩ và thói quen sinh hoạt văn hóa tinh thần biến đổi chậm hơn, đặt ra các vấn đề về bảo tồn bản sắc tộc người trong quá trình hội nhập.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Bổ sung nguồn tư liệu thực nghiệm hệ thống: Cung cấp bức tranh toàn diện và có hệ thống về tiến trình biến đổi kinh tế – xã hội của người Thái Điện Biên từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 qua các thời kỳ lịch sử đến giai đoạn Đổi mới và đô thị hóa.
- Cung cấp cứ liệu so sánh Thái học: Đóng góp nguồn tư liệu thực địa chi tiết để đối chiếu, so sánh giữa người Thái ở Điện Biên với các nhóm Thái khác tại Tây Bắc (Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình), miền Tây Thanh Hóa – Nghệ An và các nhóm tộc người Thái trong khu vực Đông Nam Á.
- Làm rõ quy luật biến đổi ở vùng miền núi tộc người: Phân tích thực tiễn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa tại một địa bàn miền núi đặc thù, chỉ ra tính chất hai mặt của sự phát triển kinh tế và các hiện tượng lệch pha văn hóa (cultural lags) trong cộng đồng thiểu số.
Ý nghĩa thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Cung cấp cơ sở thực tiễn phục vụ việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi, đặc biệt trong quy hoạch đô thị hóa miền núi và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn.
- Đề xuất sự kết hợp hài hòa giữa pháp luật nhà nước và luật tục truyền thống trong quản lý tài nguyên và trật tự cộng đồng bản mường.
- Nhấn mạnh yêu cầu gắn kết phát triển kinh tế thị trường, du lịch với nhiệm vụ bảo tồn các giá trị di sản văn hóa truyền thống của người Thái (chữ viết, kiến trúc nhà sàn, lễ hội, trang phục và nghề dệt thổ cẩm).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phạm vi khảo sát: Luận án tập trung khảo sát điền dã chuyên sâu chủ yếu tại 2 địa bàn đại diện (phường Him Lam và xã Thanh Luông thuộc huyện Điện Biên/TP. Điện Biên Phủ) với đối tượng trọng tâm là ngành Thái Đen. Nguồn tư liệu về các nhóm Thái Trắng (ở Mường Lay, Mường Chà, Mường Nhé) và các địa bàn vùng sâu vùng xa khác của tỉnh chưa được khai thác đồng đều.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh biến đổi kinh tế – xã hội giữa ngành Thái Đen và ngành Thái Trắng trên toàn địa bàn tỉnh Điện Biên và các tỉnh Tây Bắc lân cận.
- Đi sâu phân tích tác động dài hạn của các dự án thủy điện, tái định cư và biến đổi môi trường sinh thái đối với sinh kế và cấu trúc làng bản của người Thái trong giai đoạn đô thị hóa nâng cao.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Chuyên ngành Dân tộc học, Nhân học, Lịch sử Việt Nam, Văn hóa học và Xã hội học quan tâm đến phương pháp điền dã dân tộc học và khung lý thuyết nghiên cứu biến đổi văn hóa – xã hội tộc người.
- Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Ban Dân tộc, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên cùng các tỉnh miền núi phía Bắc trong việc xây dựng chính sách dân tộc, xóa đói giảm nghèo và quy hoạch nông thôn mới.
- Giới nghiên cứu Thái học quốc tế: Cung cấp góc nhìn thực địa chuyên sâu về cộng đồng người Thái tại địa bàn lòng chảo Điện Biên – nơi được coi là một trong những trung tâm lịch sử quan trọng của người Thái ở Đông Nam Á.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả của luận án là ai và thực hiện tại cơ sở đào tạo nào?
Luận án do nghiên cứu sinh Pichet Saiphan (học giả người Thái Lan) thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. Hoàng Lương và PGS. Lê Sỹ Giáo, bảo vệ học vị Tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Dân tộc học (mã số 62 22 70 01) tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2011.
2. Tên gọi cổ nhất và ý nghĩa lịch sử của vùng đất Mường Thanh – Điện Biên được luận án ghi nhận như thế nào?
Theo sử thi và thư tịch cổ, Mường Then / Mường Thanh (hay Mãnh Thiên, Song Thanh gồm Thanh Nưa và Thanh Tảư) là tên gọi xưa nhất gắn với truyền thuyết khởi nguyên của người Thái. Tên gọi "Điện Biên Phủ" chính thức được đặt vào năm 1841 (thời vua Thiệu Trị) trên cơ sở đề nghị của Nguyễn Khắc Tuần, trong đó "Điện" có nghĩa là vững chãi, "Biên" có nghĩa là vùng biên ải.
3. Hai địa bàn khảo sát điền dã trọng điểm của luận án mang những đặc trưng gì?
- Phường Him Lam (TP. Điện Biên Phủ): Diện tích 415,5 ha, có tên cổ là bản Hin Đăm ("bản đá đen"), nằm cạnh sông Nậm Rốm, đại diện cho khu vực trung tâm đang đô thị hóa nhanh chóng.
- Xã Thanh Luông (huyện Điện Biên): Diện tích 4.010 ha, có 10 km đường biên giới giáp Lào, sở hữu nguồn suối khoáng nóng Hua Pe (suối Nậm Pe) và cánh đồng thung lũng, đại diện cho vùng ven giáp ranh nông thôn – đô thị.
4. Cơ cấu thành phần dân tộc và mật độ dân số tỉnh Điện Biên năm 2007 được thống kê ra sao?
Năm 2007, tỉnh Điện Biên có tổng dân số 468.284 người với 21 dân tộc, mật độ bình quân 49 người/km² (thấp hơn mức 69 người/km² của Tây Bắc và 254 người/km² của cả nước). Trong đó, người Thái chiếm số lượng đông nhất với 186.370 người (chiếm 39,57%), kế tiếp là các dân tộc Hmông, Kinh, Khơ-mú (3,5%), Kháng (3.852 người), Hà Nhì (3.490 người), Xinh-mun (1.730 người), Cống (839 người, 0,18%), Nùng (782 người, 0,17%) và các dân tộc khác.
5. Luận án vận dụng những khung lý thuyết xã hội học và nhân học chủ yếu nào?
Luận án kết hợp học thuyết hình thái kinh tế – xã hội của Chủ nghĩa Mác; lý thuyết động cơ tư tưởng của Max Weber; lý thuyết hệ thống xã hội của Talcott Parsons; lý thuyết tiến bộ và tiến hóa xã hội của Auguste Comte, Lewis H. Morgan, Herbert Spencer, Lenski; khái niệm "Chậm trễ văn hóa" (Cultural lags) của William F. Ogburn; và khái niệm "Không gian xã hội" của Georges Condominas.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Pichet Saiphan là công trình nghiên cứu hệ thống về sự biến đổi kinh tế – xã hội của cộng đồng người Thái tại Điện Biên trong tiến trình lịch sử từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến giai đoạn Đổi mới và đô thị hóa. Bằng việc kết hợp các khung lý thuyết xã hội học, nhân học với nguồn tư liệu điền dã thực nghiệm phong phú tại phường Him Lam và xã Thanh Luông, tác giả đã làm rõ quy luật chuyển dịch từ kinh tế thung lũng tự cấp sang kinh tế thị trường cũng như những tác động sâu sắc đến cấu trúc xã hội, gia đình và lối sống tộc người. Công trình cung cấp nguồn dữ liệu khoa học tin cậy cho chuyên ngành Thái học và đóng góp cơ sở thực tiễn quan trọng cho công tác hoạch định chính sách phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc.