phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng: 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. Cơ sở lý thuyết, tổng quan về tài liệu, địa bàn và tộc ngƣời nghiên cứu Chƣơng 2. Cấu trúc, quy mô, quan hệ và chức năng của gia đình Chƣơng 3. Các nghi lễ trong chu kì đời ngƣời của gia đình Chƣơng 4.
Những biến đổi của gia đình ngƣời Pà Thẻn và một số vấn đề đặt ra hiện nay 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT, TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU, ĐỊA BÀN VÀ TỘC NGƢỜI NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý thuyết và một số khái niệm 1. Cơ sở lý thuyết Luận văn nghiên cứu về gia đình truyền thống và những biến đổi trong gia đình hiện đại của ngƣời Pà Thẻn, tập trung ở những biến đổi về quan niệm, cấu trúc, quy mô, chức năng, quan hệ gia đình và các nghi lễ gia đình.
Vì vậy, hƣớng tiếp cận chủ yếu là về nhân học văn hoá - xã hội với lý thuyết biến đổi văn hoá, thông qua cách tiếp cận chức năng - cấu trúc và lý thuyết giới. Phát triển là qui luật tự nhiên, tất yếu của bất cứ xã hội nào và sẽ kéo theo những biến đổi về văn hóa. Do vậy, biến đổi về văn hóa có thể đƣợc hiểu là quá trình vận động của tất cả các xã hội. Với tƣ cách là một phạm trù lịch sử, văn hóa luôn vận động và biến đổi để duy trì và phát triển các yếu tố truyền thống.
Sự biến đổi đó ngày càng rộng lớn về quy mô và mạnh mẽ về cƣờng độ, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Biến đổi văn hóa là một quá trình diễn ra trong tất cả các xã hội, nhất là ở các nƣớc đang tiến hành công nghiệp hóa. Tuy nhiên, biến đổi văn hóa không diễn ra theo đƣờng thẳng, một chiều nhƣ quan điểm của thuyết Tiến hóa đơn hệ (L. Taylor), mà nó phụ thuộc và chịu sự chi phối mạnh mẽ của các yếu tố văn hóa truyền thống và vai trò của các cộng đồng, dân tộc chủ thể trong sự lựa chọn và tiếp biến văn hóa.
Khi nghiên cứu về biến đổi văn hóa, trong đó có tiếp biến văn hóa - dùng để chỉ quá trình thay đổi văn hóa diễn ra do sự tiếp xúc của hai hệ thống văn hóa độc lập nhau; sự tiếp xúc đó làm tăng đặc tính của nền văn hóa này trong nền văn hóa kia. Tiếp biến gồm nhiều quá trình khác nhau nhƣ: truyền bá, thích nghi, phản ứng lại, gồm nhiều kiểu tái tổ chức văn hóa - xã hội sau quá trình tiếp xúc và sau cùng là “tan rã văn hóa”. Lý thuyết biến đổi văn hóa đƣợc vận dụng trong luận văn để lý giải sự biến đổi của các phong tục tập quán trong gia đình, những nhận thức về xã hội mới tác động vào cơ cấu gia đình truyền thống tạo nên những văn hóa mang tính thích ứng 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với biến đổi môi trƣờng tự nhiên - xã hội, sự biến đổi ấy xuất phát từ chính nội bộ tộc ngƣời. Đó là sự lựa chọn mang tính chọn lọc nhằm bảo lƣu và phát triển văn hóa tộc ngƣời mà cụ thể là gia đình truyền thống.
Một phƣơng pháp tiếp cận biến đổi văn hóa có ảnh hƣởng lớn trong nghiên cứu nhân học là thuyết chức năng - cấu trúc do Malinowski (1884 - 1942) và Radcliffe Brown (1881 - 1955) làm đại diện. Họ xem văn hóa nhƣ một cơ chế toàn vẹn, bao gồm các thành phần, các bộ phận hay các sự vật, hiện tƣợng cấu thành, có quan hệ với nhau, hợp thành một cơ cấu, trong đó mỗi bộ phận có một chức năng nhất định. Nền văn hóa nào trong tiến trình phát triển cũng đều có thể tạo ra một hệ thống cân bằng ổn định, trong đó mỗi bộ phận đều thực hiện chức năng của nó. Vì thế, các xã hội và các nền văn hóa hòa nhập tƣơng đối tốt và ổn định.Schultz và Robert H.Lavenda đã đƣa ra những vấn đề cơ bản của nghiên cứu nhân học về gia đình ở chƣơng 18 - Thân tộc và chƣơng 19 - Hôn nhân và gia đình, trong cuốn Nhân học - một quan điểm về tình trạng nhân sinh.
Theo cách tiếp cận này, vấn đề gia đình đƣợc nhìn nhận từ góc độ thực tế với mô hình cấu trúc có tính đại diện, hệ thống thân tộc đƣợc đặt tên theo các xã hội đại biểu cho các mô hình gốc của từng loại hình gia đình. Họ còn đƣa ra quan điểm về cấu trúc gia đình với cách phân loại: gia đình hạt nhân, gia đình hạt nhân mở rộng và gia đình liên hợp những anh em (chị em) cùng gia đình của họ chung sống [17,tr. Luận văn sử dụng cách tiếp cận chức năng - cấu trúc trong nghiên cứu gia đình của ngƣời Pà Thẻn, coi gia đình là một đơn vị quan trọng thực hiện những chức năng cơ bản và then chốt đối với xã hội. Trên cơ sở phân tích quan niệm, cấu trúc, quy mô, chức năng, quan hệ và các nghi lễ trong gia đình, luận văn xem xét các mối liên hệ đƣợc mở rộng ra bên ngoài hƣớng đến họ hàng, làng bản và cộng đồng của ngƣời Pà Thẻn.
Gia đình thƣờng bao gồm thành viên của hai giới nam và nữ. Hai giới này không chỉ có những nét chung và sự giống nhau nhất định, mà còn có nhiều khác biệt. Những khác biệt này gồm cả các đặc điểm sinh học lẫn các đặc điểm về văn hóa - xã hội. Trong nhiều trƣờng hợp, hai giới không bình đẳng với nhau, dù họ 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sống cùng một gia đình và sự không bình đẳng này thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau [5,tr.
Bất bình đẳng giới trong gia đình là hiện tƣợng khá phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt là các gia đình phụ hệ - phụ quyền. Tuy nhiên, sự bất bình đẳng giới trong gia đình ấy thƣờng do văn hóa quy định hơn là do yếu tố sinh học. Luận văn sử dụng lý thuyết giới trong xem xét sự biến đổi nhận thức và hành động của ngƣời Pà Thẻn về vai trò của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là thân phận của ngƣời phụ nữ, vấn đề phân công lao động, vấn đề phân chia thành quả lao động, vấn đề lựa chọn giới tính khi sinh, vấn đề nhận con nuôi, vấn đề đa thê… 1. Một số khái niệm cơ bản: Gia đình Gia đình là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội chuyên biệt.
Mỗi ngành khoa học khác nhau thƣờng có những quan điểm, góc nhìn và khung lý thuyết riêng khi xem xét gia đình. Việc xác định nội hàm của khái niệm có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định đối tƣợng nghiên cứu của một ngành khoa học. Dân tộc học coi gia đình là một thiết chế xã hội - văn hóa đặc thù, là nơi lƣu giữ những giá trị văn hóa truyền thống của tộc ngƣời và “là liên kết những ngƣời có gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân hay quan hệ thân thuộc. Đó chính là mối quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa những ngƣời anh (chị) em và họ hàng thân thuộc khác” [24,tr.
Các nhà xã hội học coi gia đình “là một nhóm ngƣời, có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nghĩa dƣỡng, có đặc trƣng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống, có ngân sách chung” [48,tr. Luật hôn nhân và gia đình ở nƣớc ta quy định tại điều 8: Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau [40,tr. Luận văn sử dụng khái niệm gia đình theo quan niệm của các nhà dân tộc học và theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 của nƣớc ta. Trong luận văn, khái niệm gia đình với ý nghĩa dùng để chỉ một tập hợp các cá nhân sống chung dƣới một mái nhà, tạo thành một đơn vị xã hội, có mối liên hệ dựa trên cơ sở của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dƣỡng nhằm thực hiện các 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chức năng cơ bản nhƣ: sinh đẻ, sản xuất, giáo dục, văn hóa… Hộ gia đình Khi nghiên cứu về gia đình, luận văn cũng lƣu ý phân biệt khái niệm gia đình và hộ gia đình.
Hộ gia đình đƣợc hiểu nhƣ một nhóm ngƣời sống chung một mái nhà, có thể có quỹ chi chung. Hộ có thể gồm những ngƣời có quan hệ ruột thịt, họ hàng hay bạn bè quen biết. Có trƣờng hợp là hộ độc thân sống một mình, có trƣờng hợp hộ gồm hai, ba ngƣời phụ nữ hay nam giới hoặc ngƣời già ở chung với nhau [36,tr. Hộ gia đình thực chất là một phạm trù xã hội mang tính pháp lý trong quản lý nhân khẩu của chính quyền địa phƣơng.
Nhƣ vậy, khái niệm gia đình thƣờng đề cập đến các mối quan hệ giữa các thành viên bên trong gia đình, còn khái niệm hộ gia đình xem xét mối quan hệ giữa gia đình với Nhà nƣớc, xã hội. Phong tục là thói quen đã có từ lâu đời, đã ăn sâu vào đời sống xã hội, đƣợc mọi ngƣời công nhận và tuân theo [46, tr. Phong tục sinh ra do nhu cầu cuộc sống, phát triển và định hình theo sự định hình của xã hội, tạo nên nếp sống truyền thống. Sinh hoạt phong tục cho thấy rõ rệt tâm thức folklore và ứng xử folklore của quần chúng qua sự bền vững và biến đổi của nó [45, tr.
Tập quán là thói quen hình thành từ lâu đời và đã trở thành nếp trong đời sống xã hội của một cộng đồng dân cƣ, đƣợc mọi ngƣời công nhận và tuân theo [46, tr. Kiêng kị là sự cấm đoán đƣợc chấp nhận mang tính nghi lễ để ngăn chặn việc tiếp xúc với một đồ vật, một ngƣời hay một hoạt động. Những cấm kỵ thông thƣờng gồm những điều ngăn cấm để hoạt động của cộng đồng đƣợc diễn ra yên ổn và không bị các đấng tối cao mà cộng đồng đó tôn vinh trách mắng. Có thể thấy, phong tục, tập quán, kiêng kỵ đƣợc hình thành trong quá trình lịch sử, qua những hoạt động sống của con ngƣời, đƣợc cộng đồng thừa nhận, trao truyền qua các thế hệ và đƣợc tuân theo ở một địa phƣơng trong một cộng đồng dân cƣ nhất định.
Đó là những quy định bất thành văn (hoặc thành văn) chi phối hoạt động sống của con ngƣời ở một mức độ nhất định.