Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biến đổi di truyền và mối liên quan với các yếu tố tiên lượng định hướng điều trị bệnh nhân u nguyên bào thần kinh

Luận án tiến sĩ nghiên cứu biến đổi di truyền và mối liên quan với yếu tố tiên lượng trong điều trị bệnh nhân u nguyên bào thần kinh.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Di truyền học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

155
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Khái quát về u nguyên bào thần kinh

1.2. Tỷ lệ mắc

1.3. Nguyên nhân hình thành khối u nguyên bào thần kinh

1.4. Phôi thai học u nguyên bào thần kinh

1.5. Mô bệnh học u nguyên bào thần kinh

1.6. Một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng u nguyên bào thần kinh

1.6.1. Một số đặc điểm lâm sàng bệnh u nguyên bào thần kinh

1.6.2. Một số đặc điểm cận lâm sàng bệnh u nguyên bào thần kinh

1.7. Các đặc điểm di truyền bệnh u nguyên bào thần kinh

1.7.1. Biến đổi về số lượng nhiễm sắc thể

1.7.2. Biến đổi về cấu trúc nhiễm sắc thể

1.7.3. Khuếch đại gen MYCN

1.7.4. Sự biến đổi biểu hiện gen trong bệnh u nguyên bào thần kinh

1.7.5. U nguyên bào thần kinh di truyền

1.7.6. Mô hình biến đổi di truyền bệnh u nguyên bào thần kinh

1.8. Các kỹ thuật di truyền sử dụng để phát hiện các biến đổi di truyền bệnh u nguyên bào thần kinh

1.8.1. Kỹ thuật lai huỳnh quang tại chỗ

1.8.2. Kỹ thuật khuếch đại đa mồi dựa vào phản ứng nối

1.8.3. Kỹ thuật lai so sánh hệ gen

1.9. Tình hình nghiên cứu bệnh u NBTK ở Việt Nam

2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.3. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

2.4. Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân

2.5. Thiết kế nghiên cứu

2.6. Phương pháp nghiên cứu

2.7. Thu thập và bảo quản mẫu bệnh phẩm

2.8. Kỹ thuật lai huỳnh quang tại chỗ

2.9. Kỹ thuật tách chiết DNA

2.10. Kỹ thuật MLPA

2.11. Kỹ thuật lai so sánh hệ gen

2.12. Các bước tiến hành nghiên cứu

2.13. Nghiên cứu một số biến đổi di truyền của bệnh u nguyên bào thần kinh

2.14. Nghiên cứu mối liên quan giữa một số biến đổi di truyền với một số biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị của bệnh nhân

2.15. Xử lý số liệu

2.16. Đạo đức trong nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1. Phát hiện một số bất thường di truyền trên các bệnh nhân nhi mắc u nguyên bào thần kinh

3.2. Xác định trạng thái khuếch đại gen MYCN bằng kỹ thuật FISH

3.3. Xác định một số biến đổi về cấu trúc nhiễm sắc thể bằng kỹ thuật MLPA và CGH

3.4. Quy trình xét nghiệm biến đổi di truyền trên bệnh nhân u NBTK

3.5. Xác định mối liên quan giữa các biến đổi di truyền với một số yếu tố tiên lượng và định hướng điều trị u nguyên bào thần kinh

3.5.1. Mối liên quan giữa trạng thái gen MYCN với tuổi chẩn đoán

3.5.2. Mối liên quan giữa trạng thái gen MYCN với giới tính

3.5.3. Mối liên quan giữa trạng thái gen MYCN với giai đoạn bệnh

3.5.4. Mối liên quan giữa trạng thái gen MYCN với chỉ số VMA/HVA

3.5.5. Mối liên quan giữa trạng thái gen MYCN với chỉ số LDH

3.5.6. Mối quan hệ giữa trạng thái gen MYCN với trạng thái biệt hóa của tế bào

3.5.7. Mối quan hệ giữa trạng thái gen MYCN với tiên lượng mô bệnh học

3.6. Ý nghĩa các biến đổi di truyền với điều trị

4. KIẾN NGHỊ VỀ NHỮNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH SÁCH BỆNH NHÂN

PHỤ LỤC 2. KẾT QUẢ MLPA CỦA MỘT SỐ BỆNH NHÂN

PHỤ LỤC 3. KẾT QUẢ TÁCH DNA CỦA MỘT SỐ BỆNH NHÂN

Tóm tắt

I. Tổng quan về biến đổi di truyền và u nguyên bào thần kinh

Biến đổi di truyền đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và tiên lượng điều trị của bệnh u nguyên bào thần kinh (NBTK). U NBTK là loại ung thư phổ biến nhất ở trẻ em, đặc biệt là dưới 5 tuổi. Các nghiên cứu cho thấy rằng sự hiện diện của các biến đổi di truyền có thể ảnh hưởng đến tiên lượng và lựa chọn phương pháp điều trị. Việc hiểu rõ về các biến đổi này sẽ giúp các bác sĩ lâm sàng đưa ra quyết định điều trị chính xác hơn.

1.1. Khái niệm về biến đổi di truyền trong u nguyên bào thần kinh

Biến đổi di truyền trong u NBTK thường liên quan đến các đột biến gen và bất thường nhiễm sắc thể. Những biến đổi này có thể dẫn đến sự phát triển không kiểm soát của tế bào, gây ra khối u ác tính. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng khuếch đại gen MYCN là một trong những biến đổi di truyền quan trọng nhất, ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh nhân.

1.2. Tình hình nghiên cứu biến đổi di truyền ở Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu về biến đổi di truyền trong u NBTK còn hạn chế. Nhiều bác sĩ lâm sàng chưa có đủ thông tin để áp dụng các phương pháp điều trị cá nhân hóa. Việc phát hiện sớm các biến đổi di truyền sẽ giúp cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân.

II. Vấn đề và thách thức trong tiên lượng điều trị u nguyên bào thần kinh

Tiên lượng điều trị u NBTK gặp nhiều thách thức do sự đa dạng trong các biến đổi di truyền. Các yếu tố như tuổi chẩn đoán, giai đoạn bệnh và tình trạng gen MYCN đều ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Việc thiếu thông tin về các biến đổi di truyền có thể dẫn đến lựa chọn phương pháp điều trị không phù hợp, ảnh hưởng đến tỷ lệ sống sót của bệnh nhân.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng điều trị

Các yếu tố như tuổi chẩn đoán, giai đoạn bệnh và tình trạng gen MYCN đều có ảnh hưởng lớn đến tiên lượng điều trị. Bệnh nhân có khuếch đại gen MYCN thường có tiên lượng xấu hơn, cần được điều trị bằng phác đồ mạnh.

2.2. Thách thức trong việc phát hiện biến đổi di truyền

Việc phát hiện các biến đổi di truyền trong u NBTK vẫn còn nhiều khó khăn. Các kỹ thuật hiện có như FISH và MLPA cần được áp dụng rộng rãi hơn để đảm bảo phát hiện kịp thời các biến đổi này.

III. Phương pháp nghiên cứu biến đổi di truyền trong u nguyên bào thần kinh

Nghiên cứu các biến đổi di truyền trong u NBTK thường sử dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các kỹ thuật như lai huỳnh quang tại chỗ (FISH), khuếch đại đa mồi dựa vào phản ứng nối (MLPA) và lai so sánh hệ gen (CGH) được áp dụng để phát hiện các bất thường di truyền. Những phương pháp này giúp xác định chính xác tình trạng gen và nhiễm sắc thể của bệnh nhân.

3.1. Kỹ thuật lai huỳnh quang tại chỗ FISH

FISH là một trong những kỹ thuật phổ biến nhất để phát hiện khuếch đại gen MYCN. Kỹ thuật này cho phép xác định vị trí gen trên nhiễm sắc thể và đánh giá tình trạng của nó trong tế bào khối u.

3.2. Kỹ thuật khuếch đại đa mồi dựa vào phản ứng nối MLPA

MLPA là kỹ thuật hiệu quả để phát hiện các biến đổi về số lượng nhiễm sắc thể. Kỹ thuật này giúp xác định các mất đoạn hoặc thêm đoạn trên nhiễm sắc thể, từ đó hỗ trợ trong việc tiên lượng bệnh.

IV. Ứng dụng thực tiễn của biến đổi di truyền trong điều trị u nguyên bào thần kinh

Việc phát hiện các biến đổi di truyền không chỉ giúp trong việc tiên lượng mà còn hỗ trợ trong việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Các bệnh nhân có khuếch đại gen MYCN thường cần được điều trị bằng phác đồ mạnh, trong khi những bệnh nhân không có biến đổi này có thể được theo dõi định kỳ.

4.1. Phác đồ điều trị cho bệnh nhân có khuếch đại gen MYCN

Bệnh nhân có khuếch đại gen MYCN thường được chỉ định phác đồ điều trị mạnh hơn, bao gồm hóa trị liệu và xạ trị. Việc điều trị sớm và đúng cách có thể cải thiện tỷ lệ sống sót cho bệnh nhân.

4.2. Theo dõi và điều trị cho bệnh nhân không có biến đổi di truyền

Đối với bệnh nhân không có khuếch đại gen MYCN, việc theo dõi định kỳ là rất quan trọng. Các bác sĩ có thể quyết định chỉ định hóa trị liệu nếu có dấu hiệu tiến triển của bệnh.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu biến đổi di truyền trong u nguyên bào thần kinh

Nghiên cứu về biến đổi di truyền trong u NBTK đang ngày càng trở nên quan trọng. Việc phát hiện sớm và chính xác các biến đổi này sẽ giúp cải thiện tiên lượng và kết quả điều trị cho bệnh nhân. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều tiến bộ trong việc cá nhân hóa điều trị ung thư ở trẻ em.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu biến đổi di truyền

Nghiên cứu biến đổi di truyền không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cơ chế bệnh lý mà còn hỗ trợ trong việc phát triển các phương pháp điều trị mới. Điều này có thể dẫn đến những cải tiến đáng kể trong kết quả điều trị cho bệnh nhân.

5.2. Hướng đi tương lai trong nghiên cứu và điều trị

Tương lai của nghiên cứu biến đổi di truyền trong u NBTK sẽ tập trung vào việc phát triển các phương pháp điều trị cá nhân hóa, nhằm tối ưu hóa hiệu quả điều trị và giảm thiểu tác dụng phụ cho bệnh nhân.

16/08/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biến đổi di truyền và mối liên quan với các yếu tố tiên lượng định hướng điều trị bệnh nhân u nguyên bào thần kinh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về u nguyên bào thần kinh 1. Tỷ lệ mắc U NBTK lại là dạng ung thư phổ biến nhất được chẩn đoán trong năm đầu tiên của cuộc đời [15].

Tỷ lệ mắc mới của u NBTK là 10,2 ca trên một triệu trẻ em dưới 15 tuổi [16]. Hàng năm có khoảng 700 ca mới ở Hoa Kỳ [73], 150 ca mới ở Pháp [105], 50-60 ca mới tại Bệnh viện Nhi Trung ương, Việt Nam. Mặc dù chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 6%, u NBTK lại là nguyên nhân của 15% số ca tử vong do ung thư ở trẻ em [89]. Tuổi chẩn đoán trung bình cho u NBTK là khoảng 18 tháng [56].

Một vài trường hợp thậm chí còn có thể phát hiện dưới siêu âm ngay từ giai đoạn bào thai. Gần 90% số trường hợp mắc u NBTK là dưới 5 tuổi, hiếm bệnh nhân trên 10 tuổi. Nguyên nhân hình thành khối u nguyên bào thần kinh Nguyên nhân của phần lớn khối u NBTK hiện nay vẫn chưa biết rõ [14]. Khối u này hình thành khi các NBTK không thể biệt hóa hoàn toàn thành các tế bào thần kinh hay tế bào tủy thượng thận.

Thay vào đó, chúng liên tục lớn lên và phân chia không kiểm soát. Tại thời điểm khối u đã có kích thước đủ lớn để gây ra các triệu chứng bệnh, nó không thể biệt hóa tiếp nữa mà phát triển và di căn nếu không được điều trị. Sự kiện một số nguyên bào thần kinh không thể biệt hóa và dừng phân chia là do kết quả các bất thường di truyền trong tế bào [100], dẫn đến việc bật các gen tiền ung thư (thường là các gen giúp tế bào lớn lên, phân chia hoặc tồn tại) và tắt các gen ức chế khối u (là các gen làm chậm sự phân chia hoặc làm cho tế bào chết đúng thời điểm). Các biến đổi di truyền đó có thể do di truyền từ bố mẹ, hoặc phát sinh mới trong đời sống cá thể.

Khoảng 8% các khối u NBTK có tính chất gia đình. Đó thường là các 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bệnh nhân có tuổi chẩn đoán sớm (9 tháng) và đột biến gen ALK và/hoặc PHOX2B di truyền từ bố mẹ [56]. Còn lại là các khối u không có nguyên nhân di truyền, mặc dù 10% đến 15% khối u nhóm này có đột biến gen ALK [67]. Một vài biến đổi gen có tác động làm tăng tốc độ phát triển của một khối u NBTK.

Ví dụ, khuếch đại gen tiền ung thư MYCN làm khối u phát triển nhanh và khó điều trị, đột biến gen ức chế khối u ATRX gặp ở các khối u tiến triển chậm nhưng lại đáp ứng không tốt với điều trị [77]. Phôi thai học u nguyên bào thần kinh U NBTK là dạng khối u có nguồn gốc phôi bào của hệ thần kinh giao cảm. Tế bào khởi đầu khối u là những tế bào tiền thân đang phát triển và chưa biệt hóa hoàn toàn, bắt nguồn từ mô mào thần kinh [99]. Chính vì thế, u NBTK thường xảy ra ở trẻ nhỏ, và xuất hiện ở nhiều vị trí khác nhau như cổ, ngực, bụng và tiểu khung.

Các biểu hiện lâm sàng rất đa dạng phụ thuộc vào vị trí u tiên phát và các biểu hiện di căn [79]. Một mặt, u NBTK giải thích cho trạng thái bệnh và tỷ lệ tử vong không cân đối giữa các loại ung thư trẻ em. Mặt khác nó biểu hiện tỷ lệ thoái triển ngẫu nhiên cao nhất trong tất cả các loại ung thư của con người. Mặt khác, kết quả điều trị trên các bệnh nhân u NBTK đã được cải thiện.

Tỷ lệ sống trong vòng 5 năm đã tăng từ 52% trong giai đoạn 1975- 1977 lên đến đến 74% từ 1999 đến 2005, tập trung ở nhóm bệnh nhân nguy cơ không cao. Trong khi đó, tỷ lệ này ở nhóm bệnh nhân nguy cơ cao chỉ có sự gia tăng khiêm tốn bất chấp sự cải tiến không ngừng các liệu pháp điều trị [56]. Sự thoái triển ngẫu nhiên Sự thoái triển ngẫu nhiên của ung thư được mô tả là sự giảm về kích thước hoặc biến mất hoàn toàn toàn một khối u tiên phát cũng như ở bệnh ung thư đã di căn mà không cần có sự can thiệp về điều trị. U NBTK được xem như một loại ung thư có diễn ra sự thoái triển ngẫu nhiên phổ biến, thông qua sự chết hàng loạt các tế bào thần kinh trung ương và ngoại vi còn chưa biệt hóa trong quá trình phát triển phôi (xem hình 1.

Tuy nhiên, tỷ lệ u NBTK thoái 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com triển ngẫu nhiên vẫn còn chưa rõ ràng [27, 41]. Bốn con đường của sự thoái triển ngẫu nhiên (1) sự thiếu hụt neurotrophin làm khởi động chết theo chương trình trong quá trình phát triển; (2) các tế bào bị tiêu diệt bởi các kháng thể kháng u NBTK và các tế bào diệt tự nhiên; (3) quá trình làm ngắn đầu mút và chết theo chương trình được kích hoạt bởi nồng độ thấp hay không có enzym telomerase; (4) các biến đổi epigenetics trong sự biểu hiện gen được kiểm soát bởi sự methyl hóa DNA, cải biến histone hay thay đổi trong quá trình hình thành chất nhiễm sắc [27]. Sự biệt hóa Biệt hóa là một hiện tượng đặc biệt khác xảy ra trên khối u NBTK, ở đó các tế bào NBTK biệt hóa từ dạng tiền thân thành dạng trưởng thành, khi đó khối u NBTK chuyển thành khối u hạch thần kinh lành tính. Các đặc điểm di truyền của các tế bào NBTK đang trưởng thành hoặc các tế bào hạch giống với các NBTK đang thoái triển, ví dụ như gen MYCN không bị đột biến, không mất đoạn cánh ngắn nhiễm sắc thể số 1 và có bộ nhiễm sắc thể gần tam bội.

Sự biệt 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hóa này có thể là ngẫu nhiên hoặc xuất hiện sau hóa trị. Tỷ lệ các khối u NBTK đi theo con đường biệt hóa là thấp hơn các khối u thoái triển theo con đường chết theo chương trình [41, 64]. Sự tăng trưởng ác tính Phần lớn các khối u NBTK ở giai đoạn muộn rất khó thoái triển hoặc tiếp tục biệt hóa. Đồng thời có một phần không nhỏ các khối u giai đoạn Ms đã tiến triển thành giai đoạn M (xem thêm phần 1.

Rõ ràng, có một liên kết chặt chẽ giữa sự tăng trưởng ác tính của khối u với các đặc điểm di truyền bất lợi như khuếch đại gen MYCN, nhiều thay đổi về cấu trúc nhiễm sắc thể và bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội/ tứ bội [41]. Mô bệnh học u nguyên bào thần kinh Các khối u ngoại vi thần kinh gồm có 2 thành phần tế bào là các NBTK (neuroblastic cells)/tế bào hạch (ganglionic cells) và các tế bào đệm Schwann (Schwannian cells). Các NBTK ở khối u sản sinh ra chất kích thích phân bào quan trọng cho các tế bào Schwann tăng sinh và phát triển. Ngược lại, các tế bào Schwann lại có thể tiết ra các nhân tố kìm hãm tăng sinh và cảm ứng biệt hóa thiết yếu cho quá trình biệt hóa của các tế bào thần kinh.

Chính sự tương tác qua lại giữa các NBTK với các tế bào mô đệm Schwann này giải thích cho quá trình trưởng thành của các khối u ngoại vi thần kinh thuận lợi về mặt sinh học. Còn các khối u không thuận lợi về mặt sinh học nhìn chung có ít thành phần mô đệm và sự trưởng thành của khối u cũng bị hạn chế [112]. Các khối u NBTK được đánh giá mức độ trưởng thành theo các nhóm tuổi dựa theo 2 đặc điểm hình thái là mức độ biệt hóa của các NBTK và mức độ phát triển của các tế bào đệm Schwann. Đại đa số các trường hợp có thể chẩn đoán thông qua phân tích hình ảnh tế bào học trên tiêu bản nhuộm HE thông thường.

Chỉ có một nhóm nhỏ cần thêm các dấu ấn miễn dịch huỳnh quang để khẳng định chẩn đoán. U NBTK (neuroblastoma) là khối u có thành phần mô đệm Schwann 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chiếm dưới 50% toàn bộ khối u. Có 3 mức độ biệt hoá là chưa biệt hoá, ít biệt hoá và đang biệt hóa. U NBTK chưa biệt hóa (undifferentiated neuroblastoma) (chiếm 2-3% tổng số u NBTK) đặc trưng bởi các tế bào u chưa biệt hóa, kích thước nhỏ hoặc trung bình, vành bào tương không rõ ranh giới, nhân có nhiều hình dạng (hình tròn hay dài) và có thể chứa nhiều hạch nhân, không có các sợi tơ thần kinh.

U NBTK ít biệt hóa (poorly differentiated neuroblastoma) (chiếm khoảng 65-75% các u NBTK) là các khối u dưới 5% tế bào có các dấu hiệu biệt hóa cùng với sự xuất hiện các sợi tơ thần kinh. U NBTK đang biệt hóa (differentiating neuroblastoma) (khoảng 5% các u NBTK) thường có nhiều sợi tơ thần kinh với trên 5% tế bào đang ở các mức độ biệt hóa khác nhau. Sự biệt hóa của tế bào thể hiện ở cả nhân (nhân rộng, lệch tâm, chất nhiễm sắc hình túi và một hạch nhân lồi lên) và bào tương (ưa kiềm, có hai quai) [42]. U hạch nguyên bào thần kinh bao gồm 2 týp là thể hỗn hợp và thể nốt.

U hạch NBTK thể hỗn hợp (ganglioneuroblastoma, intermixed) (khoảng 2-3% các u NBTK) là các khối u giàu mô đệm Schwann với những ổ vi thể các NBTK ở các giai đoạn biệt hóa khác nhau cùng nhiều sợi tơ thần kinh phân bố ngẫu nhiên, nhưng thành phần biệt hóa phải chiếm trên 50% toàn khối u. U hạch NBTK thể nốt (ganglioneuroblastoma, nodular) (chiếm 7-8% các u NBTK) thường là các ổ NBTK (nghèo mô đệm Schwann) kèm theo u hạch NBTK hỗn hợp (giàu mô đệm Schwann) và u hạch thần kinh (chủ yếu là mô đệm Schwann), với dấu hiệu đặc trưng là đường phân ranh giới dốc đứng giữa nốt NBTK và mô đệm Schwann phản ánh quá trình phát triển nhanh của các tế bào ác tính làm tắc nghẽn thành phần mô đệm Schwann [112]. U hạch thần kinh (ganglioneuroma) (thấp hơn 1% các u NBTK) bao gồm u hạch thần kinh đang biệt hóa và u hạch thần kinh biệt hóa. U hạch thần kinh đang biệt hóa là các u mà thành phần mô đệm Schwann chiếm ưu thế chủ yếu kèm theo các tế bào đang biệt hóa và đã biệt hóa hoàn toàn.

U hạch thần kinh biệt hóa bao gồm mô đệm Schwann và các tế bào hạch trưởng thành, không có 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành phần NBTK. Ngoài ra có khoảng 4-5% các u NBTK không xếp loại được (u NBTK không đặc hiệu) [112]. Căn cứ vào tuổi chẩn đoán, mức độ biệt hóa của khối u, chỉ số nhân chia/nhân tan, và nốt canxi hóa, Hiệp hội Giải phẫu bệnh u NBTK Quốc tế chia u NBTK thành 2 nhóm tiên lượng là mô bệnh học thuận lợi và mô bệnh học không thuận lợi [72, 95].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ