MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi nước ta có những bước phát triển mạnh đặc biệt là ngành chăn nuôi gia cầm theo số liệu của tổng cục thống kê ngày 1 tháng 10 năm 2014 tổng đàn gia cầm đạt 327,696 triệu con; tăng 10,0 triệu con so với năm 2013; trong đó tổng đàn gà chiếm 75,08% so với tổng đàn gia cầm (246,028 triệu con gà). Chăn nuôi gà có xu hướng phát triển theo hướng thâm canh công nghiệp trong đó chăn nuôi gà được quan tâm hàng đầu vì có khả năng đáp ứng nhanh về thịt và trứng cho nhu cầu của người tiêu dùng. Trong chăn nuôi gà, ngoài những bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn, virut gây ra như cúm gia cầm, Newcastle, tụ huyết trùng.
còn có những bệnh ký sinh trùng làm cho gà gầy yếu, còi cọc, chậm lớn, giảm sức đề kháng, tạo điều kiện cho các bệnh khác phát triển, làm giảm năng suất và chất lượng thịt, trứng. Bệnh sán dây là một trong những bệnh ký sinh trùng gây tác hại đáng kể cho chăn nuôi gà thả vườn. Bệnh được phân bố rộng ở hầu hết các vùng trên thế giới. Ở nước ta, bệnh sán dây ở gà thả vườn xảy ra phổ biến ở các vùng địa lý khác nhau, gà ở vùng núi và trung du thường nhiễm sán dây cao hơn vùng đồng bằng.
Sán dây gà cần ký chủ trung gian là các loài kiến, ruồi, bọ cánh cứng. Đặc biệt, thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài ký chủ trung gian của sán dây gà (Nguyễn Thị Kim Lan và cs 1999 [9], Nguyễn Thị Ngân 2011 [19]). Sán dây ký sinh trong ống tiêu hoá, chiếm đoạt các chất dinh dưỡng của gà, làm gà gầy yếu, thiếu máu, thể hiện rõ nhất là niêm mạc vàng, nhợt nhạt, mào và dái tai gà xanh tái. Gà thở khó, do đó thường vươn cao cổ để thở.
Sán Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 2 gây ra các tác động cơ học trong ruột non của gà: niêm mạc ruột bị tổn thương do các móc bám của sán, gây viêm ruột thứ phát và xuất huyết. Gà ỉa lỏng, phân có lẫn máu. Gà con bị nhiễm sán thường thể hiện viêm ruột cấp và chết với tỷ lệ cao. Trong quá trình ký sinh, sán dây cũng tiết ra độc tố tác động đến hệ thần kinh, làm cho gà mệt mỏi, ít vận động, đứng ủ rũ trong bóng tối.
Gà con bị bệnh thể cấp tính có thể bỏ ăn, hôn mê, lên cơn động kinh và chết (dẫn theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 2002 [15]). Trong những năm gần đây, chăn nuôi gà ở thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh phát triển khá mạnh, trong đó chăn nuôi gà thả vườn chiếm một số lượng lớn. Tuy nhiên, việc phòng trị bệnh ký sinh trùng, đặc biệt là bệnh do sán dây còn ít được chú ý. Xuất phát từ nhu cầu của thực tế chăn nuôi gà ở thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu bệnh sán dây ở gà thả vườn tại một số xã, phường thuộc thành phố Móng Cái - tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị".
Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán dây ở gà thả vườn tại 5 xã, phường thuộc TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. - Xác định được các biểu hiện lâm sàng và bệnh tích do sán dây gây ra ở gà nhiễm bệnh. - Xác định được hiệu lực của một số loại thuốc điều trị và đề xuất biện pháp phòng bệnh hiệu quả.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ học bệnh sán dây ở gà thả vườn, có một số đóng góp mới cho khoa học. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi gà áp dụng biện pháp phòng trị bệnh sán dây, nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây cho gà, hạn chế thiệt hại do sán dây gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi gia cầm phát triển.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Bệnh sán dây là bệnh thường gặp ở gà, đặc biệt là gà thả vườn. Bệnh xảy ra phổ biến ở các đàn gà nuôi của nước ta và nhiều nước trên thế giới. Sán dây ký sinh ở ruột non và ruột già, dùng giác bám bám vào niêm mạc ruột gây tổn thương.
Nếu nhiều sán sẽ làm tắc ruột, thủng ruột, viêm xoang bụng. Sán dây lấy dưỡng chấp của gà làm gà gày yếu, còi cọc và có thể chết nếu mắc bệnh nặng. Sán dây ký sinh ở gà 1. Vị trí của sán dây ký sinh ở gà trong hệ thống phân loại động vật Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [32], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [16], Đặng Ngọc Thanh và cs (2008) [24], hệ thống phân loại sán dây của Việt Nam đã lựa chọn hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev 1970 để sắp xếp các loài sán dây phát hiện được ở người, chim thú nuôi và hoang dại ở Việt Nam, trong đó sán dây ký sinh gà có vị trí như sau: Ngành giun dẹp (Plathelminthes) Lớp Cestoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Eucestoda Southwell, 1930 Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900 Phân bộ Davaineata Skrjabin, 1940 Họ Davaineidae Fuhrmann, 1907 Phân họ Davaineidae Braun, 1900 Giống Cotugnia Diamare, 1893 Loài Cotugnia digonopora Pasquale, 1890 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 Giống Davainea Blanchard, 1891 Loài Davainea proglottina (Davaine, 1860) Giống Raillietina Fuhrmann, 1920 Phân giống Raillietina Stiles et Orleman, 1926 Loài R.
echinobothrida Megnin, 1881 Loài R. penetrans Baczyncka, 1914 Loài R. penetrans novo Johri, 1934 Loài R. peradenica Sawada, 1957 Loài R.
tetragona Dolin, 1858 Loài R. volzi Fuhrmann, 1905 Phân giống Raillietina (Paroniella) Fuhrmann, 1920 Loài R.) macassariensis Yamaguti, 1956 Loài R.) tinguiana Tubangui et Masilungan, 1937 Phân giống Raillietina (Skrjabinia) Fuhrmann, 1920 Loài R. Thành phần loài sán dây ký sinh ở gà Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8], các loài sán dây ký sinh ở gà đã tìm thấy ở Việt Nam là: Cotugnia digonopora, Davainea proglottna, Raillietina echinobothrida, R. Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9], Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, (2002) [15] cho biết, sán dây thường gặp ở gà gồm những loài chính là: Raillietina tetragona, R.
cesticillus, Cotugnia digonopora, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 Davainea proglottina. Trong đó, có 3 loài nhiễm phổ biến ở gà là: R. Theo Phan Thế Việt và cs (1997) [33], thành phần loài sán dây ký sinh ở gà gồm: Giống Loài Davainea Branchard, 1891 Davainea proglostina (Davaine, 1860) Cotugnia Diamare, 1893 Cotugnia digonopora (Pasquale, 1890) Raillietina tetragona (Molin, 1858) R. echinobothrida (Megnin, 1880) Raillietina Fuhrmann, 1920 R.
Đặc điểm hình thái, kích thước một số loài sán dây ký sinh ở gà * Đặc điểm chung Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 Cơ thể sán dây dẹp theo hướng lưng - bụng, kéo dài gồm nhiều đốt riêng biệt, sán dây ký sinh ở cá, cơ thể không phân đốt. Phần trước cơ thể có đầu (Scolex), có cơ quan bám, giúp vật ký sinh bám chặt vào thành ruột của vật chủ. Ở một số loài sán dây trên móc bám có các móc bé xếp thành nhiều hàng. Giác bám là đặc trưng của sán dây bậc cao.
Móc bám nằm ngay trên đầu hay ở phần cuối vòi, sắp xếp thành một hay hai hàng. Số lượng móc ở các nhóm sán dây dao động từ số đơn vị đến vài trăm móc. Kích thước, cấu tạo và số lượng móc cố định cho mỗi loài. Cổ không phân đốt là vùng sinh trưởng, từ đó hình thành các đốt mới, số lượng các đốt dao động rất lớn tuỳ loài, từ ba đốt đến vài trăm đốt.
Các đốt ở phía trước là các đốt non và bé, càng về sau các đốt càng lớn và già. Chiều dài của sán dây dao động từ vài mm đến vài chục mét. Chiều dài của sán dây ký sinh ở gia cầm từ 1,5 mm - 500 mm. Cơ thể màu trắng hoặc màu vàng.
Cơ thể sán dây phủ lớp tiểu bì, đến lớp hạ bì rồi đến lớp cơ vòng - cơ dọc. Phần bên trong chứa đầy nhu mô. Nội quan gồm có hệ thần kinh, hệ bài tiết và hệ sinh dục, không có hệ tiêu hoá. Hệ thần kinh ở sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh trung ương nằm ở trên đầu, từ đó có các dây chạy dọc cơ thể.
Có hai dây phát triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu nối ngang. Hệ bài tiết của sán dây theo kiểu nguyên đơn thận, gồm 4 ống chính chạy dọc cơ thể: 2 ống mặt lưng và 2 ống mặt bụng và nối với nhau ở phần đầu. Ngoài ra ở mỗi đốt các ống trái và phải nối với nhau bằng cầu nối ngang. Hầu hết các loài sán dây có hệ sinh dục lưỡng tính.
Mỗi đốt có một, hai cơ quan sinh dục đực và cái. Sự phát triển của hệ sinh dục theo một thứ tự nhất định: ở các đốt non cơ quan sinh dục chưa phát triển sau đó hình thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái. Sau khi thụ tinh, hệ sinh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 dục đực teo dần còn lại bộ phận sinh dục cái. Ở các đốt già trứng chứa đầy trong tử cung.
Hệ sinh dục đực gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh. Số lượng tinh hoàn có thể rất khác nhau từ một đến vài trăm. Mỗi tinh hoàn có ống dẫn đổ vào ống dẫn tinh chung hoặc thẳng hoặc cong và cuối cùng mở ra ở huyệt sinh dục (bên cạnh lỗ sinh dục cái). Phần cuối ống dẫn tinh là cơ quan giao phối (nang lông gai) chứa gai giao phối phủ các gai nhỏ hoặc vảy.
Trước gai giao phối, ống dẫn tinh phình rộng tạo thành túi chứa tinh. Có thể có túi chứa tinh ngoài (ở ngoài túi giao phối) và túi chứa tinh trong (nằm trong túi giao phối). Hệ sinh dục cái có cấu tạo phức tạp hơn, gồm có buồng trứng, ống dẫn trứng, ootyp, tuyến noãn hoàng, túi nhận tinh, tuyến vò (thể Melis) và tử cung, thường có hai buồng trứng nằm giữa hoặc phía sau đốt sinh dục, ít khi ở phía trước. Trong buồng trứng hình thành các tế bào sinh dục cái (tế bào trứng).
Từ buồng trứng có ống gắn nối với âm đạo mở ra ở huyệt sinh dục. Ống này phình rộng ra gọi là túi nhận tinh. Trứng thụ tinh được đưa vào ootyp.