Tổng quan nghiên cứu

Vườn quốc gia Cát Bà sở hữu diện tích 285 km2 thuộc Khu dự trữ sinh quyển thế giới quần đảo Cát Bà, là nơi lưu giữ 2.320 loài động thực vật với khoảng 80 loài nguy cấp được ghi danh trong Sách Đỏ Việt Nam, nổi bật là loài Voọc Cát Bà đặc hữu. Trong giai đoạn từ năm 1995 đến 2007, lượng khách du lịch đến Cát Bà ghi nhận mức tăng trưởng bùng nổ hơn 16 lần, từ 45.000 lượt lên 729.000 lượt khách. Mặc dù doanh thu du lịch và thu nhập quốc dân bình quân đầu người tăng gấp đôi, tỷ lệ hộ nghèo tại địa phương trong giai đoạn 2000-2008 chỉ giảm nhẹ khoảng 1%, từ trên 9% xuống xấp xỉ 8%. Thực trạng này phản ánh rõ rệt mâu thuẫn giữa tốc độ thương mại hóa du lịch và sự bất bình đẳng trong phân phối lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết sự mất cân đối trong cơ chế chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan, nhằm giảm thiểu áp lực khai thác tài nguyên rừng và suy thoái sinh thái. Mục tiêu cụ thể gồm: đánh giá thực trạng phát triển du lịch sinh thái và công tác bảo tồn; nhận diện vai trò cùng sự tương tác của các nhóm chủ thể; phân tích cơ chế phân phối doanh thu thực tế; đánh giá tác động hai chiều giữa du lịch và bảo tồn đa dạng sinh học; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp quản trị tài nguyên rừng bền vững.

Nghiên cứu được triển khai tại khu vực trung tâm Vườn quốc gia Cát Bà và xã vùng lõi Việt Hải, kết hợp theo dõi dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2013-2017 cùng khảo sát thực địa năm 2018. Luận văn mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở tối ưu hóa nguồn thu 1,2 tỷ đồng tăng thêm mỗi năm từ việc điều chỉnh giá vé và 859,7 triệu đồng/năm từ tiền thuê môi trường rừng của 22 vị trí dự án, giúp định hình mô hình quản lý đồng thuận và bền vững cho hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng Lý thuyết các bên liên quan trong quản trị khu bảo tồn và Lý thuyết du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng. Khung nghiên cứu tích hợp mô hình phân phối dòng lợi ích và chi phí sinh thái - kinh tế giữa 4 nhóm chủ thể chính: Cơ quan quản lý nhà nước và Vườn quốc gia, Doanh nghiệp tư nhân và công ty lữ hành, Du khách, cùng Cộng đồng cư dân bản địa. Khung lý thuyết này vận dụng 5 khía cạnh cốt lõi của du lịch sinh thái bao gồm không gian địa lý tự nhiên, tính bảo tồn, tính văn hóa bản địa, lợi ích cộng đồng và chức năng giáo dục môi trường.

Ba khái niệm học thuật then chốt được chuẩn hóa và xuyên suốt toàn bộ công trình:

  • Du lịch sinh thái: Hình thức du lịch có trách nhiệm tại các khu tự nhiên nhằm bảo tồn môi trường, duy trì phúc lợi của người dân địa phương và kết hợp giáo dục diễn giải môi trường cho mọi đối tượng.
  • Cơ chế chia sẻ lợi ích: Quy trình thể chế hóa việc phân chia các giá trị kinh tế, xã hội và sinh thái phát sinh từ tài nguyên du lịch giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp thương mại và cư dân vùng đệm.
  • Du lịch tình nguyện: Sự kết hợp giữa trải nghiệm lữ hành và thực hiện các nghĩa vụ phục vụ cộng đồng, bảo vệ môi trường, góp phần thay đổi nhận thức bảo tồn sinh thái tại điểm đến.

Nghiên cứu cũng gắn kết 4 mục tiêu chiến lược của các tổ chức tiếp thị điểm đến nhằm tối ưu hóa sự cân bằng giữa lợi ích kinh tế và chi phí môi trường tại 22 địa điểm cho thuê môi trường rừng thuộc lâm phận quản lý.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực chứng. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát bảng hỏi với cỡ mẫu 52 phiếu hợp lệ, bao gồm 12 cán bộ Trung tâm Dịch vụ Du lịch sinh thái và Giáo dục Môi trường cùng 4 sinh viên thực tập, 20 du khách trong nước và quốc tế, và 20 hộ dân tại xã vùng lõi Việt Hải. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng cho nhóm dân cư (phân chia thành 14 hộ trực tiếp tham gia du lịch và 6 hộ không tham gia) nhằm so sánh khách quan mức độ chênh lệch thu nhập.

Đồng thời, tác giả thực hiện 7 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc chuyên sâu với các đối tượng hoạch định và quản lý chủ chốt, bao gồm Giám đốc và Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ Du lịch sinh thái, Lãnh đạo Hạt Kiểm lâm, Trưởng thôn, Người cao tuổi và Quản lý doanh nghiệp lữ hành. Phương pháp quan sát tham dự được tiến hành liên tục trong 4 tuần thực địa tại Vườn quốc gia Cát Bà qua 3 giai đoạn: quan sát mô tả tổng quan, quan sát tập trung vào chuỗi cung ứng dịch vụ bản địa, và quan sát chọn lọc đối với các điểm nóng xung đột tài nguyên.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp phân tích định tính chuyên sâu là nhằm thực hiện đối soát chéo dữ liệu đa nguồn. Cách tiếp cận này giúp kiểm chứng mức độ tin cậy giữa ý kiến tự đánh giá của người dân với số liệu xử phạt lâm luật thực tế từ cơ quan kiểm lâm. Toàn bộ tiến trình xử lý dữ liệu định lượng được thực hiện trên phần mềm Excel, chuyển đổi các tần số phản hồi thành tỷ lệ phần trăm và trực quan hóa qua biểu đồ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ chế phân bổ tài chính từ hoạt động du lịch đã bước đầu tạo lập nguồn thu tự chủ cho bảo tồn. Theo Quyết định số 1780/2014/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, mức phí tham quan Vườn quốc gia Cát Bà tăng từ 20.000 đồng lên 40.000 đồng/khách/tuyến, tạo ra nguồn thu bổ sung ước tính 1,2 tỷ đồng mỗi năm. Toàn bộ 100% nguồn thu từ vé được giữ lại để điều tiết, trong đó 40% trích trực tiếp vào quỹ của Vườn quốc gia (với 90% dành riêng cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học và 10% phục vụ quản lý), còn 60% phân bổ cho Trung tâm Dịch vụ Du lịch sinh thái để trang trải chi phí vận hành, tôn tạo hạ tầng và đào tạo nhân lực. Ngoài ra, 22 dự án thuê môi trường rừng với tổng diện tích 413 ha đóng góp khoảng 859,7 triệu đồng/năm cho ngân sách quản lý.

Thứ hai, du lịch sinh thái tạo ra sự phân hóa thu nhập rõ rệt trong cộng đồng bản địa. Kết quả khảo sát 20 hộ dân tại xã Việt Hải cho thấy 14 hộ tham gia chuỗi dịch vụ du lịch (bán hàng lưu niệm, dịch vụ lưu trú homestay, vận chuyển và hướng dẫn viên) có mức sống vượt trội. Trong đó, có 4 hộ đạt mức thu nhập trên 9 triệu đồng/tháng (chiếm 28,6% nhóm tham gia) và hoàn toàn không có hộ nào thu nhập dưới 2 triệu đồng/tháng. Ngược lại, ở nhóm 6 hộ thuần nông không tham gia du lịch, không có bất kỳ hộ nào đạt mức thu nhập trên 9 triệu đồng/tháng và phần lớn tập trung ở ngưỡng 2-5 triệu đồng/tháng.

Thứ ba, sự chuyển dịch sinh kế gắn liền với sự sụt giảm mạnh mẽ các hành vi xâm hại rừng. Dữ liệu từ Hạt Kiểm lâm Cát Bà xác nhận số vụ vi phạm lâm luật đã giảm từ 31 vụ trong năm 2001 xuống còn 8 vụ năm 2015, và tiếp tục giảm sâu xuống 4 vụ vào năm 2016 và 4 vụ vào năm 2017. Hành vi khai thác lâm sản trái phép giảm mạnh từ 6 vụ năm 2015 xuống chỉ còn 1 vụ vào năm 2017, cho thấy sự cải thiện kinh tế đã trực tiếp làm suy giảm thói quen vào rừng săn bắt, chặt gỗ và hái cây thuốc của người dân.

Thứ tư, tồn tại sự bất cân xứng trong chuỗi giá trị và phân bổ lợi ích tổng thể. Có tới 70% đối tượng khảo sát nhận định các doanh nghiệp lữ hành tư nhân là đơn vị thu được tỷ suất lợi nhuận cao nhất từ tài nguyên Cát Bà. Trong khi đó, Ban quản lý Vườn quốc gia và cộng đồng địa phương mỗi bên chỉ nhận được khoảng 15% sự phân bổ giá trị thực tế, dù cộng đồng là chủ thể trực tiếp chịu tác động môi trường và tham gia bảo vệ tài nguyên tại chỗ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến việc giảm thiểu các vụ vi phạm lâm luật là do cơ chế tạo việc làm từ du lịch đã nâng mức thu nhập của người dân địa phương lên gấp 1,5 lần so với hoạt động canh tác nông nghiệp truyền thống. Khi giá trị kinh tế nhận được từ du lịch đủ bù đắp chi phí cơ hội của việc ngừng khai thác rừng, cộng đồng sẵn sàng chuyển đổi từ vị thế người khai thác sang vai trò cộng tác viên bảo vệ rừng tự nhiên.

Khi so sánh với các bài học quốc tế, điển hình như mô hình du lịch sinh thái tại Costa Rica, Cát Bà đã tránh được bẫy thương mại hóa thuần túy nhờ thiết lập cơ chế giữ lại 100% nguồn thu phí tham quan để tái đầu tư trực tiếp 40% cho hoạt động bảo tồn. Tuy nhiên, tính chất mùa vụ du lịch mùa hè (chiếm phần lớn lượng khách nội địa là cán bộ, công chức đi nghỉ dưỡng) đang gây áp lực quá tải hạ tầng cục bộ, trong khi công suất phòng lưu trú chỉ đạt 15-20% vào mùa thấp điểm.

Về mặt học thuật và hiển thị dữ liệu, các phát hiện này có thể được mô tả hiệu quả thông qua hai dạng thức trực quan:

  • Biểu đồ cột kép so sánh cơ cấu 5 mức thu nhập hộ gia đình giữa nhóm tham gia và không tham gia du lịch sinh thái để làm nổi bật khoảng cách phúc lợi kinh tế.
  • Biểu đồ tròn phân tách dòng phân bổ 40/60 từ nguồn thu vé tham quan, chi tiết hóa tỷ trọng 90% chi bảo tồn đa dạng sinh học để chứng minh tính tự chủ tài chính sinh thái.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện và thể chế hóa cơ chế phân phối doanh thu môi trường rừng. Ban Quản lý Vườn quốc gia Cát Bà phối hợp với Sở Tài chính và Sở Du lịch Hải Phòng xây dựng quy chế trích tối thiểu 10-15% từ tổng nguồn thu 859,7 triệu đồng/năm của các hợp đồng thuê môi trường rừng để thành lập Quỹ Phát triển Sinh kế Cộng đồng. Mục tiêu phân bổ trực tiếp nguồn vốn ưu đãi cho 100% hộ dân thuộc 6 xã vùng đệm có nhu cầu chuyển đổi sang mô hình kinh doanh du lịch sinh thái, hoàn thành phê duyệt thể chế trong vòng 12 tháng.

Thứ hai, chuẩn hóa chất lượng nhân lực du lịch bản địa và đội ngũ quản lý. Trung tâm Dịch vụ Du lịch sinh thái và Giáo dục Môi trường liên kết với các trường đại học chuyên ngành và tổ chức quốc tế triển khai định kỳ 4 khóa đào tạo ngoại ngữ và kỹ năng diễn giải môi trường mỗi năm. Mục tiêu nâng tỷ lệ hướng dẫn viên địa phương thành thạo tiếng Anh lên mức trên 60% và chuẩn hóa nghiệp vụ phục vụ du khách quốc tế cho toàn bộ 14 hộ kinh doanh homestay tại xã Việt Hải trong lộ trình 18 tháng.

Thứ ba, đa dạng hóa chuỗi sản phẩm du lịch sinh thái nhằm giảm tải áp lực mùa vụ. Doanh nghiệp lữ hành phối hợp với Hạt Kiểm lâm và cộng đồng địa phương thiết kế và đưa vào khai thác 3 tuyến du lịch chuyên đề mới trong vòng 24 tháng: tuyến trải nghiệm phục hồi rừng ngập mặn Phù Long, tuyến diễn giải đa dạng sinh học gắn với bảo tồn Voọc Cát Bà, và tuyến du lịch tình nguyện làm sạch môi trường. Mục tiêu tăng thời gian lưu trú bình quân của du khách từ 1,5 ngày lên 2,5 ngày và nâng công suất sử dụng phòng mùa thấp điểm lên mức trên 35%.

Thứ tư, thiết lập hệ thống kiểm soát sức chứa sinh thái và giám sát rác thải nghiêm ngặt. Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Cát Bà phối hợp với chính quyền xã Việt Hải ban hành hạn ngạch đón tiếp không vượt quá 500 khách/ngày tại thung lũng Việt Hải trong các dịp cao điểm. Đồng thời, lắp đặt bổ sung 100 thùng rác sinh thái tiêu chuẩn dọc theo 8 tuyến du lịch bộ trọng điểm và duy trì đội tuần tra giám sát định kỳ 2 ngày một lần nhằm xử lý triệt để tình trạng xả rác tại các vùng sinh cảnh nhạy cảm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và Ban quản lý các khu bảo tồn: Cung cấp bằng chứng thực tiễn về mô hình tự chủ tài chính thông qua việc tái đầu tư 40% doanh thu phí tham quan và 859,7 triệu đồng tiền thuê môi trường rừng, làm căn cứ nhân rộng cho hệ thống các Vườn quốc gia tại Việt Nam.
  • Doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư du lịch: Cung cấp dữ liệu thị hiếu của các nhóm khách nội địa và quốc tế, định hướng thiết lập liên minh đối tác công bằng với cư dân địa phương nhằm xây dựng chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch sinh thái bền vững, tránh xung đột lợi ích.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Quản lý Tài nguyên, Lâm nghiệp, Du lịch học: Đóng vai trò tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu đa chiều, kết hợp khảo sát 52 mẫu định lượng với phương pháp quan sát tham dự và kỹ thuật đối soát chéo dữ liệu lâm nghiệp.
  • Các tổ chức phi chính phủ và quỹ tài trợ bảo tồn quốc tế: Cung cấp khung đánh giá hiệu quả sinh kế gắn với giảm thiểu vi phạm lâm luật (từ 31 vụ xuống còn 4 vụ), làm luận cứ khoa học để xây dựng và giải ngân các dự án tài trợ phát triển du lịch dựa vào cộng đồng và bảo tồn loài nguy cấp.

Câu hỏi thường gặp

Cơ chế phân bổ tài chính từ vé tham quan tại Vườn quốc gia Cát Bà hiện nay được quy định như thế nào? Theo Quyết định số 1780/2014/QĐ-UBND, giá vé tham quan là 40.000 đồng/người/tuyến. Toàn bộ nguồn thu được giữ lại đơn vị: 40% nộp vào quỹ Vườn quốc gia (với 90% dành cho bảo tồn đa dạng sinh học và 10% chi quản lý), 60% trích cho Trung tâm Du lịch sinh thái phục vụ in vé, bảo hiểm du khách (500 đồng/vé), duy tu cơ sở hạ tầng và đào tạo nhân viên.

Du lịch sinh thái tạo ra tác động cụ thể ra sao đến thu nhập của cư dân bản địa tại xã Việt Hải? Khảo sát thực tế xác nhận 14 hộ dân tham gia dịch vụ du lịch có mức sống vượt bậc, trong đó 4 hộ đạt thu nhập trên 9 triệu đồng/tháng (chủ yếu là chủ homestay và hướng dẫn viên) và 0% hộ có thu nhập dưới 2 triệu đồng/tháng. Mức thu nhập này cao hơn khoảng 1,5 lần so với thu nhập từ sản xuất nông nghiệp trước đây.

Hoạt động du lịch sinh thái đã giúp giảm thiểu các vụ vi phạm lâm luật tại Vườn quốc gia như thế nào? Khi người dân có nguồn thu nhập ổn định từ du lịch, áp lực khai thác rừng giảm rõ rệt. Số vụ vi phạm lâm luật ghi nhận bởi kiểm lâm đã giảm mạnh từ 31 vụ năm 2001 xuống còn 8 vụ năm 2015 và duy trì ở mức 4 vụ vào các năm 2016-2017; các hành vi khai thác lâm sản trái phép giảm từ 6 vụ xuống 1 vụ.

Những rào cản lớn nhất đối với việc phát triển du lịch sinh thái tại Cát Bà là gì? Các thách thức chủ yếu bao gồm tính mùa vụ đậm nét tập trung vào các tháng hè, trình độ ngoại ngữ tiếng Anh của lao động địa phương còn hạn chế, cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ và sự bất bình đẳng trong phân phối lợi ích khi 70% người được hỏi nhận định công ty lữ hành tư nhân chiếm tỷ phần lợi nhuận lớn nhất.

Mô hình du lịch tình nguyện mang lại giá trị gì cho công tác bảo tồn môi trường tại địa phương? Các nhóm tình nguyện viên quốc tế từ Đại học Cardiff và tổ chức phi chính phủ SJ Vietnam đã trực tiếp tham gia dọn dẹp vệ sinh và chế tạo khoảng 50 thùng rác sinh thái lắp đặt trên các tuyến rừng Kim Giao - Đỉnh Ngự Lâm và Ao Ếch. Hoạt động này vừa giải quyết vấn đề rác thải tức thời, vừa tác động mạnh mẽ đến ý thức bảo vệ môi trường của cư dân và du khách.

Kết luận

  • Công trình luận văn đã phân tích toàn diện hiện trạng phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Cát Bà trên diện tích 285 km2, chứng minh mối quan hệ tương hỗ mật thiết giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế cộng đồng.
  • Luận văn lượng hóa cụ thể hiệu quả phân bổ của cơ chế giữ lại 100% nguồn thu vé tham quan (tạo thêm 1,2 tỷ đồng/năm) và 859,7 triệu đồng/năm từ 22 hợp đồng thuê môi trường rừng để tái cấp vốn 90% cho hoạt động bảo tồn sinh thái.
  • Nghiên cứu chứng minh sự chuyển đổi sinh kế du lịch đã nâng thu nhập người dân lên mức trên 9 triệu đồng/tháng, góp phần trực tiếp kéo giảm số vụ vi phạm lâm luật từ 31 vụ xuống còn 4 vụ/năm.
  • Hệ thống phát hiện đã chỉ ra khoảng trống quản trị khi 70% giá trị kinh tế rơi vào doanh nghiệp lữ hành thương mại, mở đường cho việc tái cấu trúc chuỗi giá trị và thiết lập Quỹ Phát triển Sinh kế Cộng đồng.
  • Đóng góp khoa học trọng tâm của tác giả Hoàng Đình Nguyên là hoàn thiện khung lý thuyết và thực tiễn về chia sẻ lợi ích sinh thái đa bên, tạo cơ sở thực thi Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch bền vững tầm nhìn 2025-2050 cho quần đảo Cát Bà.

Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm đến bài toán bảo tồn tài nguyên rừng gắn với phát triển sinh kế bền vững nên nghiên cứu toàn văn luận văn thạc sĩ này để vận dụng các mô hình chia sẻ lợi ích thực chứng vào thực tiễn quản trị khu bảo tồn thiên nhiên.