Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với tiêu đề "Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam" do nghiên cứu sinh Lê Phương Thảo Quỳnh thực hiện tại Trường Đại học Ngoại thương (Hà Nội, 2022), chuyên ngành Kinh tế quốc tế (mã số: 9310106), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Từ Thúy Anh và PGS.TS. Hoàng Xuân Bình.

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Hiện tượng bẫy thu nhập trung bình (BTNTB) được Ngân hàng Thế giới (World Bank) cảnh báo từ năm 2007 (Gill & Kharas). Theo chuẩn phân loại của World Bank dựa trên chỉ số GNI bình quân đầu người (Atlas method), Việt Nam đã bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình (TNTB) thấp từ năm 2009 ($1.000 USD/người) và đạt mức $2.660 USD/người vào năm 2020. Dựa theo bộ dữ liệu Maddison (2010) và cách phân loại của Felipe và cộng sự (2012) tính theo GDP bình quân đầu người PPP 1990, Việt Nam gia nhập ngưỡng TNTB thấp từ năm 2002 ($2.023 USD/người). Mặc dù duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao, nền kinh tế Việt Nam bộc lộ nhiều hạn chế về hiệu quả đầu tư, chất lượng lao động, mức độ thâm dụng tài nguyên, rủi ro hệ thống tài chính và nguy cơ tụt hậu. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định nguy cơ rơi vào BTNTB là một trong bốn nguy cơ lớn, đồng thời đặt ra mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Luận án giải quyết khoảng trống nghiên cứu về việc so sánh đối chiếu có hệ thống giữa hai nhóm nền kinh tế vượt và mắc BTNTB tại châu Á, kết hợp kiểm định định lượng các yếu tố ảnh hưởng và dự báo khả năng vượt bẫy của Việt Nam.

  • Mục tiêu nghiên cứu:

    • Mục tiêu chung: Xác định các yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa nhóm quốc gia thoát BTNTB và nhóm mắc BTNTB; lượng hóa các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng vượt BTNTB của các nước TNTB thấp tại châu Á; đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam và đề xuất các hàm ý chính sách.
    • Mục tiêu cụ thể:
      1. Làm rõ các đặc điểm giúp Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hong Kong vượt BTNTB thành công.
      2. Xác định các nguyên nhân khiến Philippines và Indonesia rơi vào BTNTB.
      3. Định lượng mức độ tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội đến khả năng vượt BTNTB của 13 quốc gia TNTB thấp tại châu Á (LMICA) giai đoạn 2002 - 2020.
      4. Ứng dụng các khung lý thuyết quốc tế và phỏng vấn chuyên gia để xác định khả năng vượt BTNTB của Việt Nam, xây dựng kịch bản kinh tế giai đoạn 2021 - 2030.
      5. Đề xuất các hàm ý chính sách cho Chính phủ Việt Nam.
  • Câu hỏi nghiên cứu:

    • Câu hỏi 1: Yếu tố nào tạo ra sự khác biệt giữa nhóm quốc gia mắc BTNTB và nhóm vượt BTNTB thành công tại châu Á?
    • Câu hỏi 2: Thực trạng kinh tế hiện nay và khả năng vượt BTNTB của Việt Nam được đánh giá như thế nào?
    • Câu hỏi 3: Các yếu tố kinh tế vĩ mô, nguồn nhân lực, công nghệ và thể chế có tác động ra sao tới khả năng vượt BTNTB của nhóm nước TNTB thấp tại châu Á?
    • Câu hỏi 4: Từ kinh nghiệm quốc tế và thực trạng nội tại, Việt Nam cần thực thi những chính sách nào để tăng trưởng bền vững và vượt BTNTB?
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Kinh nghiệm quốc tế về BTNTB; các yếu tố quyết định và ảnh hưởng đến BTNTB; thực trạng và khả năng vượt BTNTB của Việt Nam. Khách thể nghiên cứu là các nền kinh tế thế giới, trọng tâm là khu vực châu Á.
    • Phạm vi không gian: Tập trung vào các nền kinh tế châu Á bao gồm nhóm vượt bẫy thành công (Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, Hong Kong); nhóm mắc bẫy (Philippines, Indonesia); và nhóm 13 quốc gia TNTB thấp tại châu Á (LMICA: Việt Nam, Ấn Độ, Campuchia, Lào, Philippines, Myanmar, Mông Cổ, Bangladesh, Pakistan, Nepal, Indonesia, Sri Lanka, Bhutan).
    • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1950 - 2020 cho phân tích kinh nghiệm quốc tế; giai đoạn 2002 - 2020 cho mô hình hồi quy bảng; tháng 3/2021 - 6/2021 cho phỏng vấn chuyên gia; và giai đoạn 2021 - 2030 cho xây dựng kịch bản kinh tế.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai nhánh tiếp cận chính:

  • Các cách tiếp cận xác định BTNTB:

    • Tiếp cận theo giá trị tuyệt đối: Spence (2011) xác định ngưỡng BTNTB từ $5.000 - $10.000 USD. Felipe và cộng sự (2012) sử dụng dữ liệu GDP bình quân đầu người theo PPP 1990 từ Maddison (2010), chia thành TNTB thấp ($2.000 - $7.250 USD) và TNTB cao ($7.250 - $11.750 USD); quốc gia mắc bẫy nếu ở ngưỡng TNTB thấp quá 28 năm hoặc TNTB cao quá 14 năm (tổng thời gian vượt bẫy trên 42 năm). Aiyar và cộng sự (2013) nghiên cứu 138 quốc gia giai đoạn 1955 - 2009, xác định BTNTB là hiện tượng suy giảm tăng trưởng kéo dài ít nhất 10 năm trong dải thu nhập $2.000 - $15.000 USD (giá 2005). Eichengreen, Park và Shin (2013) xác định sự giảm tốc tăng trưởng kinh tế thường xảy ra ở ngưỡng thu nhập $10.000 - $11.000 USD và $15.000 - $16.000 USD. Islam (2015) xác định quốc gia mắc bẫy nếu duy trì ở nhóm TNTB cao suốt 40 năm.
    • Tiếp cận theo giá trị tương đối: Woo (2012) xây dựng Chỉ số đuổi kịp (Catch-up Index - CUI), xác định quốc gia có TNTB khi thu nhập đạt 20% - 55% mức thu nhập của Mỹ. Báo cáo China 2030 của World Bank (2012) và Agenor & Canuto (2012) đưa ra ngưỡng 5% - 45% thu nhập của Mỹ. Robertson & Ye (2013, 2014) kiểm tra tính dừng của chuỗi chênh lệch log thu nhập giữa quốc gia nghiên cứu và Mỹ trong ngưỡng 8% - 36%; nếu chuỗi là dừng (stationary), quốc gia đó bị coi là mắc kẹt trong BTNTB. Im & Rosenblatt (2013) và Bulman và cộng sự (2014) tiếp cận ngưỡng 10% - 50% thu nhập của Mỹ. Nhóm nghiên cứu của Hawksworth / PwC (2014) xây dựng chỉ số ESCAPE với 20 chỉ báo thành phần thuộc 5 trụ cột.
    • Các quan điểm hoài nghi về BTNTB: Barro (2016), Im & Rosenblatt (2013) cho rằng sự chuyển đổi từ TNTB lên thu nhập cao không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với quá trình chuyển đổi từ thu nhập thấp lên TNTB.
  • Các nhóm yếu tố ảnh hưởng tới BTNTB:

    • Vốn đầu tư và hiệu quả đầu tư: Năng suất cận biên của vốn suy giảm theo quy luật (Kharas & Kohli, 2001; Agenor, 2012; Warr, 2011). Nguy cơ phụ thuộc quá mức vào FDI và thiếu liên kết nội địa (Lembaran, 2018; Trần Văn Thọ, 2014; Võ Trí Hảo, 2016; Nguyễn Văn Luân & Ngô Văn Hải, 2015).
    • Vốn nhân lực: Trình độ kỹ năng lao động thấp cản trở chuyển dịch lên các ngành giá trị gia tăng cao (Felipe và cộng sự, 2012; Lin & Treichel, 2012; Jankowska và cộng sự, 2012; Acemoglu và cộng sự, 2006). Mô hình thế hệ đan chéo (OLG) của Agenor & Canuto (2015) phân biệt kỹ năng cơ bản và nâng cao, gắn tích lũy tri thức với cơ chế "học qua làm" (learning-by-doing). Các nghiên cứu của Redding (1996), Stone & Shepherd (2011), Atalay (2015), Bozkurt và cộng sự (2014), Phan Thế Công & Phạm Thị Minh Uyên (2016) khẳng định vai trò then chốt của giáo dục đại học và đào tạo nghề.
    • Khoa học công nghệ và TFP: TFP suy giảm mạnh tại các nước mắc bẫy (Yanrui Wu, 2013; Bulman và cộng sự, 2014; Aiyar và cộng sự, 2013). Đổi mới sáng tạo và đa dạng hóa xuất khẩu công nghệ cao là động lực thoát bẫy (Dalgic và cộng sự, 2014; Jitsuchon, 2012; Keun và cộng sự, 2020; Klingler-Vidra và cộng sự, 2020; Nguyễn Minh Phong, 2014).
    • Thể chế và chính sách công nghiệp: Chính sách công nghiệp kém chất lượng và thể chế chậm thích ứng gây cản trở tăng trưởng (Kanchoochat, 2014; Paus, 2014; Kharas & Kohli, 2011; Ohno, 2017; Charles Gore, 2017; Panther & Flechtner, 2015).
    • Hội nhập kinh tế và các yếu tố khác: Hiệu ứng từ chuỗi giá trị và FDI (Barrios và cộng sự, 2010; Dinh, 2014; Nguyễn Quỳnh Huy, 2019); tự do hóa tài chính (Yiping và cộng sự, 2014); tầng lớp trung lưu (Ozturk, 2015); và tính bền vững của mô hình phát triển (Chu Văn Cấp & Nguyễn Đức Hải, 2015).
  • Khoảng trống luận án giải quyết: Phần lớn các nghiên cứu về Việt Nam trước đây chủ yếu dừng lại ở mức mô tả định tính. Luận án lấp đầy khoảng trống bằng việc kết hợp đồng thời phương pháp phân tích so sánh lịch sử (nhóm Đông Á thành công và nhóm Đông Nam Á mắc bẫy), kiểm định chuỗi thời gian (ARIMA, nghiệm đơn vị ADF/Phillips-Perron), ước lượng mô hình dữ liệu bảng cho 13 nước LMICA châu Á giai đoạn 2002 - 2020, và phân tích Delphi qua khảo sát chuyên gia để xây dựng kịch bản dự báo 2021 - 2030 cho Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Khung lý thuyết và khái niệm nền tảng:

    • Mô hình tăng trưởng tân cổ điển Solow-Swan (1956): Hàm sản xuất vĩ mô $Y = F(A, K, L)$. Giải thích hiện tượng suy giảm tăng trưởng khi tích lũy tư bản theo chiều sâu chạm ngưỡng năng suất cận biên giảm dần nếu không có sự gia tăng của hệ số công nghệ ($A$) và TFP.
    • Mô hình chuyển đổi 5 giai đoạn và mô hình tăng trưởng của Trần Văn Thọ (2013): Phân tích điểm chuyển hoán trên thị trường lao động (Lewis turning point), quá trình dịch chuyển từ tăng trưởng dựa vào đầu vào sang tăng trưởng dựa vào TFP và lợi thế so sánh động.
    • Mô hình thế hệ đan chéo (OLG) của Agenor & Canuto (2015): Luận giải cơ chế tích lũy kỹ năng nâng cao phục vụ thiết kế, sáng chế và lan tỏa công nghệ.
    • Định nghĩa BTNTB trong luận án: Là hiện tượng các nền kinh tế sau khi đạt ngưỡng TNTB nhờ khai thác tài nguyên và lao động chi phí thấp bị chậm lại về tăng trưởng, mất nhiều hơn 42 năm để chuyển tiếp lên ngưỡng thu nhập cao (dựa trên tiêu chuẩn của Felipe và cộng sự, 2012 và Robertson & Ye, 2013).
  • Phương pháp nghiên cứu định tính:

    • Phương pháp phân tích tổng hợp so sánh: Đối chiếu các chỉ tiêu vĩ mô (tỷ lệ tích lũy vốn/GDP, hiệu quả đầu tư ICOR, tỷ trọng xuất khẩu, chỉ số vốn nhân lực, tốc độ tăng TFP) giữa nhóm vượt bẫy (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hong Kong) và nhóm mắc bẫy (Philippines, Indonesia) với thực trạng kinh tế Việt Nam.
    • Phương pháp phỏng vấn chuyên gia và xây dựng kịch bản: Thu thập dữ liệu sơ cấp qua phỏng vấn sâu 15 chuyên gia kinh tế trong giai đoạn từ tháng 3/2021 đến tháng 6/2021 nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng và tính bất định của các nhân tố then chốt, từ đó thiết lập các kịch bản tăng trưởng cho Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030.
  • Phương pháp nghiên cứu định lượng:

    • Mô hình kinh tế lượng dữ liệu bảng (Panel Data Regression): Ước lượng tác động của các biến số kinh tế vĩ mô, vốn nhân lực, công nghệ, thể chế đến thu nhập và tăng trưởng của nhóm 13 quốc gia TNTB thấp châu Á (LMICA) trong giai đoạn 2002 - 2020.
    • Phương pháp chuỗi thời gian và kiểm định tính dừng: Sử dụng phần mềm EViews thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị Augmented Dickey-Fuller (ADF) và Phillips-Perron (PP) trên chuỗi logarit chênh lệch thu nhập tương đối của Việt Nam so với Mỹ (theo phương pháp của Robertson & Ye, 2014) nhằm kiểm tra tính dừng của chuỗi số liệu.
    • Mô hình dự báo ARIMA (Box & Jenkins, 1976): Dự báo xu hướng GDP bình quân đầu người của Việt Nam đến năm 2030 theo phương pháp của Felipe và cộng sự (2012) từ nguồn số liệu IMF và World Bank.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp giai đoạn 1950 - 2020 được trích xuất từ cơ sở dữ liệu của World Bank (WDI, WEO), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Penn World Tables (PWT 6.3, 7.1, 9.1), Dự án Angus Maddison (Maddison Project Database 2010, 2018), Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International), Tổng cục Thống kê Việt Nam (TCTK) và Bộ Tài chính.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về bẫy thu nhập trung bình

Chương này tập hợp và phân loại các công trình nghiên cứu về BTNTB trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả chỉ ra sự thiếu đồng nhất trong các định nghĩa học thuật, chia tách các nghiên cứu theo hai trường phái tiếp cận (tuyệt đối và tương đối). Đồng thời, chương 1 phân loại chi tiết các nhóm nhân tố tác động đến khả năng thoát bẫy gồm vốn đầu tư, vốn nhân lực, trình độ công nghệ, năng lực thể chế và mức độ hội nhập kinh tế quốc tế. Kết quả tổng thuật xác lập cơ sở lý chứng cho khoảng trống nghiên cứu mà luận án hướng tới.

Chương 2: Cơ sở lý luận về bẫy thu nhập trung bình

Chương 2 làm rõ các khái niệm ngưỡng TNTB thấp ($2.000 - $7.250 USD) và TNTB cao ($7.251 - $11.750 USD tính theo PPP 1990 của Maddison). Tác giả phân tích tác động tiêu cực nhiều mặt của BTNTB lên kinh tế - xã hội: làm suy giảm khả năng tích lũy vốn, cạn kiệt tài nguyên, gia tăng nợ công, hạn chế ngân sách cho giáo dục - KH&CN, gia tăng thất nghiệp, bất bình đẳng thu nhập (dẫn chứng hệ số Gini của Brazil đạt 53,4 năm 2019 và xếp hạng tham nhũng 94/176 năm 2020) và gây bất ổn chính trị (dẫn chứng khủng hoảng Mùa xuân Ả Rập năm 2011). Hiện tượng BTNTB được luận giải chặt chẽ thông qua hàm sản xuất Solow-Swan, mô hình thế hệ đan chéo OLG và lý thuyết chuyển đổi cơ cấu sản xuất.

Phân loại ngưỡng thu nhập theo các tác giả Ngưỡng TNTB thấp Ngưỡng TNTB cao Đơn vị tính / Gốc so sánh
World Bank (2013) $1.036 - $4.085 $4.086 - $12.615 USD hiện hành (Atlas)
Felipe và cộng sự (2012) $2.000 - $7.250 $7.251 - $11.750 PPP$ (giá cố định 1990)
Woo (2012) 20% - 55% GDP BQĐN của Mỹ 20% - 55% GDP BQĐN của Mỹ PPP$ (Maddison 1990)
Robertson & Ye (2013) 8% - 36% GDP BQĐN của Mỹ 8% - 36% GDP BQĐN của Mỹ PPP$ (PWT giá 2005)
Aiyar và cộng sự (2013) $2.000 $15.000 PPP$ (giá cố định 2005)

Chương 3: Kinh nghiệm của các nền kinh tế vượt hoặc mắc bẫy thu nhập trung bình tại châu Á

Chương 3 đi sâu phân tích dữ liệu lịch sử giai đoạn 1950 - 1995 của hai nhóm nền kinh tế điển hình tại châu Á:

  • Nhóm vượt bẫy thành công (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hong Kong): Duy trì tỷ lệ tích lũy vốn/GDP rất cao (Singapore đạt trên 40% trong nhiều năm), sử dụng vốn đầu tư hiệu quả (ICOR duy trì ở mức thấp giai đoạn 1965 - 1995), chuyển dịch nhanh cơ cấu xuất khẩu sang các sản phẩm thâm dụng công nghệ cao (Hàn Quốc chuyển dịch từ dệt may sang điện tử, máy móc giai đoạn 1965 - 1994), liên tục gia tăng chỉ số vốn nhân lực và duy trì tốc độ tăng trưởng TFP dương ổn định giai đoạn 1951 - 1995.
  • Nhóm mắc bẫy (Philippines, Indonesia): Tăng trưởng kinh tế thiếu ổn định, tỷ lệ đầu tư thấp và kém hiệu quả, chỉ số vốn nhân lực và năng suất yếu tố tổng hợp TFP trì trệ kéo dài trong suốt giai đoạn 1953 - 2017.

Chương 4: Thực trạng kinh tế và khả năng vượt bẫy thu nhập trung bình của Việt Nam

Chương 4 phân tích bức tranh kinh tế Việt Nam giai đoạn 2002 - 2020:

  • Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người duy trì mức khả quan so với thế giới nhưng tăng trưởng TFP còn hạn chế; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm; số bằng phát minh sáng chế và chỉ số đa dạng xuất khẩu công nghệ cao còn thấp so với các nước vượt bẫy cùng thời kỳ.
  • Đánh giá theo phương pháp tiếp cận tuyệt đối: Kết quả mô hình ARIMA (theo Felipe và cộng sự, 2012) và dữ liệu World Bank cho thấy Việt Nam cần duy trì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người tối thiểu 4,3% - 4,7%/năm liên tục trong giai đoạn 2010 - 2029 để không bị kẹt lại trong nhóm TNTB thấp.
  • Đánh giá theo phương pháp tiếp cận tương đối: Kiểm định nghiệm đơn vị ADF và Phillips-Perron đối với chuỗi thu nhập tương đối so với Mỹ cho thấy nguy cơ chuỗi dừng, hàm ý Việt Nam đang đối diện nguy cơ rơi vào BTNTB nếu không tạo lập được động lực tăng trưởng mới.
  • Đánh giá theo khảo sát chuyên gia: Tổng hợp ý kiến 15 chuyên gia kinh tế chỉ ra các yếu tố có mức độ ảnh hưởng lớn nhất và tính bất định cao nhất đối với kinh tế Việt Nam là chất lượng thể chế, năng suất lao động và năng lực đổi mới sáng tạo KH&CN.

Chương 5: Mô hình ước lượng các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng vượt bẫy thu nhập trung bình của Việt Nam và các nước thu nhập trung bình thấp khác tại châu Á

Chương 5 xây dựng mô hình kinh tế lượng dữ liệu bảng cho 13 nền kinh tế LMICA châu Á giai đoạn 2002 - 2020. Các biến số được phân tích so sánh gồm: thu nhập tương đối, tăng trưởng GDP BQĐN, chi tiêu chính phủ, tỷ lệ vốn đầu tư/GDP, dòng vốn FDI ròng, tỷ lệ dân số sử dụng Internet, tỷ lệ nhập học đại học - cao đẳng, chỉ số nhận thức tham nhũng (CPI) và tỷ lệ dân số thành thị.

Nhóm biến số trong mô hình Chỉ báo đại diện / Thước đo Nguồn dữ liệu
Biến phụ thuộc Tăng trưởng GDP BQĐN / Thu nhập tương đối so với Mỹ World Bank / PWT / Maddison
Vốn đầu tư & Tài khóa Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP (%), Chi tiêu chính phủ/GDP (%) World Bank WDI / IMF
Hội nhập kinh tế Dòng vốn FDI ròng vào trong nước (% GDP) World Bank WDI
Khoa học công nghệ Tỷ lệ dân số sử dụng Internet (%) World Bank WDI / ITU
Vốn nhân lực Tỷ lệ nhập học đại học và cao đẳng (%) World Bank WDI / UNESCO
Chất lượng thể chế Chỉ số nhận thức tham nhũng (CPI) Transparency International
Đô thị hóa Tỷ lệ dân số thành thị (% tổng dân số) World Bank WDI

Kết quả ước lượng kinh tế lượng khẳng định: Vốn đầu tư, trình độ vốn nhân lực (nhập học đại học/cao đẳng), tỷ lệ ứng dụng công nghệ thông tin (Internet), mức độ đô thị hóa và cải thiện chất lượng thể chế (chỉ số CPI tăng) có tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê tới tăng trưởng và khả năng thu hẹp khoảng cách thu nhập. Ngược lại, hiệu quả chi tiêu công thấp và FDI thiếu tính liên kết lan tỏa không mang lại tác động bền vững.

Chương 6: Hàm ý chính sách cho Việt Nam

Trên cơ sở phân tích xu hướng thế giới, các mục tiêu phát triển kinh tế đến năm 2030 và 2045 của Đại hội XIII, kết hợp các kịch bản tăng trưởng 2021 - 2030 từ khảo sát chuyên gia, chương 6 đề xuất 6 nhóm hàm ý chính sách cụ thể:

  1. Thúc đẩy tăng trưởng dựa trên tăng năng suất lao động: Đổi mới giáo dục đại học, đào tạo kỹ năng nghề chuyên sâu, giải phóng nguồn lực lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ giá trị cao.
  2. Thúc đẩy vai trò của khoa học và công nghệ: Gia tăng đầu tư R&D, thúc đẩy ứng dụng công nghệ số, hỗ trợ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và bảo hộ sở hữu trí tuệ.
  3. Đổi mới và nâng cao chất lượng thể chế: Cải cách thủ tục hành chính, phòng chống tham nhũng, minh bạch hóa chính sách, hoàn thiện khung pháp lý kinh tế thị trường.
  4. Chính phủ can thiệp linh hoạt và hiệu quả: Xây dựng chính sách công nghiệp chủ động, lựa chọn đúng các ngành mũi nhọn có lợi thế so sánh động thay vì hỗ trợ dàn trải.
  5. Nâng cao hiệu quả chi tiêu công và vốn đầu tư: Tái cơ cấu đầu tư công, giảm thiểu thất thoát lãng phí, giảm hệ số ICOR, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước (DNNN).
  6. Tận dụng cơ hội hội nhập và nâng cao hiệu quả thu hút FDI: Chọn lọc dự án FDI công nghệ cao, gắn kết doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước để tạo hiệu ứng lan tỏa chuỗi cung ứng.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Đóng góp mới về mặt lý luận:

    • Hệ thống hóa toàn diện các trường phái tiếp cận lý luận và tiêu chí xác định BTNTB trên thế giới, làm rõ sự tương thích của các ngưỡng thu nhập tuyệt đối (Felipe và cộng sự, 2012) và tương đối (Robertson & Ye, 2013) trong bối cảnh các nước đang phát triển.
    • Xây dựng khung phân tích tích hợp giữa mô hình tăng trưởng tân cổ điển, lý thuyết TFP và mô hình thế hệ đan chéo (OLG) để giải thích cơ chế thoát hoặc mắc kẹt tại ngưỡng TNTB.
  • Đóng góp mới về mặt thực tiễn và thực nghiệm:

    • Tổng hợp và chỉ rõ các chỉ số định lượng then chốt phân định giữa nhóm nền kinh tế châu Á vượt bẫy (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hong Kong) và nhóm mắc bẫy (Philippines, Indonesia) trong suốt giai đoạn 1950 - 2020.
    • Ước lượng thực nghiệm trên bộ dữ liệu bảng của 13 quốc gia TNTB thấp châu Á (LMICA) giai đoạn 2002 - 2020, kiểm định vai trò của thể chế, vốn nhân lực bậc cao và công nghệ đối với khả năng vượt bẫy.
    • Đánh giá khả năng vượt bẫy của Việt Nam bằng sự kết hợp đa phương pháp (ARIMA, kiểm định nghiệm đơn vị ADF/PP, so sánh tiêu chí quốc tế và lấy ý kiến chuyên gia Delphi), đồng thời thiết lập các kịch bản tăng trưởng 2021 - 2030 gắn với mục tiêu Đại hội XIII.
  • Kiến nghị, giải pháp đề xuất: Hệ thống hóa 6 nhóm giải pháp chính sách mang tính đồng bộ cho Việt Nam: nâng cao năng suất lao động; phát triển KH&CN; cải cách thể chế và phòng chống tham nhũng; nâng cao hiệu lực can thiệp của Nhà nước; tối ưu hóa chi tiêu công và hiệu quả vốn đầu tư; nâng cao chuỗi giá trị từ hội nhập và FDI.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:

    • Do hạn chế về nguồn số liệu thống kê lịch sử đồng nhất, chuỗi số liệu của một số chỉ tiêu TFP và vốn nhân lực giai đoạn trước năm 1970 tại một số quốc gia châu Á phải sử dụng số liệu ước tính từ Maddison và PWT.
    • Phạm vi khảo sát chuyên gia giới hạn ở cỡ mẫu 15 chuyên gia kinh tế trong giai đoạn từ tháng 3/2021 đến tháng 6/2021, phản ánh góc nhìn tại thời điểm khảo sát.
    • Mô hình định lượng tập trung vào 13 quốc gia TNTB thấp tại châu Á, chưa mở rộng ra quy mô toàn cầu hoặc so sánh chi tiết với các nền kinh tế Mỹ Latinh ở cùng cấp độ mô hình bảng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Mở rộng mẫu nghiên cứu sang các nền kinh tế TNTB cao tại châu Á và khu vực Mỹ Latinh để so sánh tác động của thể chế giữa hai nhóm khu vực.
    • Cập nhật số liệu sau năm 2020 để đánh giá các cú sốc kinh tế vĩ mô toàn cầu tác động đến tiến trình phục hồi và nguy cơ mắc bẫy của Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng học thuật và thực tiễn:

  • Cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương trong việc xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, hoàn thiện chính sách công nghiệp, nâng cao hiệu quả đầu tư công và thu hút FDI.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và nghiên cứu sinh: Cung cấp khung tổng quan tài liệu chi tiết, phương pháp luận kết hợp giữa chuỗi thời gian, dữ liệu bảng và kỹ thuật Delphi, cùng hệ thống bảng biểu so sánh lịch sử phát triển kinh tế khu vực châu Á.
  • Sinh viên, học viên cao học ngành Kinh tế quốc tế và Kinh tế phát triển: Tài liệu học tập chuyên khảo về lý thuyết tăng trưởng, phân tích TFP, vốn nhân lực và các mô hình kinh tế vĩ mô ứng dụng.

Câu hỏi thường gặp

  • 1. Theo luận án, Việt Nam chính thức bước vào ngưỡng thu nhập trung bình thấp từ năm nào? Theo cách tính của World Bank dựa trên chỉ số GNI bình quân đầu người (phương pháp Atlas), Việt Nam đạt mức TNTB thấp từ năm 2009 ($1.000 USD/người). Theo cách tiếp cận của Felipe và cộng sự (2012) sử dụng số liệu Maddison tính theo GDP bình quân đầu người PPP 1990, Việt Nam bước vào ngưỡng TNTB thấp từ năm 2002 ($2.023 USD/người).

  • 2. Luận án xác định khoảng thời gian tối đa để một quốc gia không bị coi là rơi vào bẫy thu nhập trung bình là bao lâu? Dựa trên khung lý thuyết của Felipe và cộng sự (2012), một quốc gia bị coi là mắc BTNTB thấp nếu ở ngưỡng này quá 28 năm, và mắc BTNTB cao nếu ở ngưỡng này quá 14 năm. Tổng thời gian tối đa để một quốc gia chuyển từ ngưỡng TNTB thấp lên thu nhập cao mà không bị coi là mắc bẫy là 42 năm.

  • 3. Nhóm 13 quốc gia thu nhập trung bình thấp tại châu Á (LMICA) trong mô hình định lượng gồm những nước nào? Nhóm LMICA trong mô hình dữ liệu bảng của luận án giai đoạn 2002 - 2020 bao gồm 13 quốc gia: Việt Nam, Ấn Độ, Campuchia, Lào, Philippines, Myanmar, Mông Cổ, Bangladesh, Pakistan, Nepal, Indonesia, Sri Lanka và Bhutan.

  • 4. Kết quả kiểm tra chuỗi số liệu thu nhập tương đối của Việt Nam so với Mỹ bằng phần mềm EViews cho thấy điều gì? Ứng dụng phương pháp của Robertson & Ye (2014), tác giả kiểm định tính dừng (ADF và Phillips-Perron) trên chuỗi logarit chênh lệch thu nhập tương đối của Việt Nam so với Mỹ. Kết quả cho thấy chuỗi số liệu có tính dừng, phản ánh nguy cơ khoảng cách thu nhập tương đối không được thu hẹp bền vững và cảnh báo nguy cơ rơi vào BTNTB nếu không có giải pháp thúc đẩy năng suất đột phá.

  • 5. Điểm khác biệt mấu chốt giữa các nền kinh tế châu Á vượt bẫy thành công và nhóm mắc bẫy được luận án chỉ ra là gì? Các nền kinh tế vượt bẫy (Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Nhật Bản, Hong Kong) duy trì được tỷ lệ tích lũy vốn cao đi kèm hiệu quả sử dụng vốn (ICOR thấp), tốc độ tăng trưởng TFP dương ổn định, vốn nhân lực chất lượng cao và chuyển đổi cơ cấu xuất khẩu sang các sản phẩm công nghệ cao. Ngược lại, nhóm mắc bẫy (Philippines, Indonesia) duy trì hiệu quả đầu tư kém, TFP suy giảm hoặc trì trệ, vốn nhân lực thấp và thiếu chính sách công nghiệp định hướng dài hạn.

Kết luận

Luận án của NCS. Lê Phương Thảo Quỳnh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về bẫy thu nhập trung bình, kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trên chuỗi dữ liệu kinh tế vĩ mô của các quốc gia châu Á giai đoạn 1950 - 2020. Kết quả nghiên cứu khẳng định Việt Nam đang đứng trước thách thức lớn của nguy cơ rơi vào BTNTB thấp nếu không duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân cần thiết từ 4,3% - 4,7%/năm trong giai đoạn 2010 - 2029. Thông qua mô hình dữ liệu bảng trên 13 nước LMICA và khảo sát chuyên gia, luận án xác lập 6 trụ cột chính sách trọng tâm nhằm giúp Việt Nam chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học công nghệ và hoàn thiện thể chế để đạt được các mục tiêu phát triển đến năm 2030 và 2045.