Luận án tiến sĩ về bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích bẫy thu nhập trung bình kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho việt nam, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới cho

Chuyên ngành

Kinh Tế Quốc Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2022

221
8
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu chung

1.2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

1.3. Câu hỏi nghiên cứu và khung phân tích

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH

2.1. Khái niệm về bẫy thu nhập trung bình

2.1.1. Khái niệm về ngưỡng TNTB và BTNTB

2.1.2. Ảnh hưởng của BTNTB lên kinh tế xã hội

2.2. Luận giải BTNTB theo các lý thuyết tăng trưởng

2.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới BTNTB

2.3.1. Vốn nhân lực

3. CHƯƠNG 3: KINH NGHIỆM CỦA CÁC NỀN KINH TẾ VƯỢT HOẶC MẮC BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH TẠI CHÂU Á

3.1. Các nền kinh tế châu Á vượt BTNTB thành công

3.1.1. Thu nhập và tăng trưởng của các nền kinh tế châu Á vượt BTNTB thành công

3.1.2. Các yếu tố giúp các nền kinh tế châu Á vượt BTNTB thành công

3.2. Các nền kinh tế châu Á mắc BTNTB

3.2.1. Thu nhập và tăng trưởng của các nền kinh tế châu Á mắc BTNTB

3.2.2. Các yếu tố khiến các nền kinh tế châu Á mắc bẫy thu nhập trung bình

4. THỰC TRẠNG KINH TẾ VÀ KHẢ NĂNG VƯỢT BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH CỦA VIỆT NAM

4.1. Tổng quan kinh tế Việt Nam

4.1.1. Thu nhập và tăng trưởng của kinh tế Việt Nam

4.1.2. Đánh giá chung về kinh tế Việt Nam giai đoạn 2002 - 2020

4.2. Đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam

4.2.1. Đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam theo các cách tiếp cận

4.2.2. Đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam bằng cách so sánh các tiêu chí

4.2.3. Đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam theo ý kiến chuyên gia và gợi ý kịch bản

5. CHƯƠNG 5: MÔ HÌNH ƯỚC LƯỢNG CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI KHẢ NĂNG VƯỢT BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH CỦA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC THU NHẬP TRUNG BÌNH THẤP KHÁC TẠI CHÂU Á

5.1. Thu nhập và tăng trưởng của Việt Nam và các nước TNTB thấp khác tại châu Á (nhóm LMICA) từ năm 2002 đến năm 2020

5.2. Thu nhập và tăng trưởng kinh tế của nhóm LMICA

5.3. Một số yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập, tăng trưởng của nhóm LMICA

5.4. Định lượng các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng vượt BTNTB của nhóm LMICA

5.4.1. Mô hình nghiên cứu

5.4.2. Biến số và thước đo

5.4.3. Mô tả thống kê và tương quan

5.4.4. Kết quả và thảo luận

6. HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM

6.1. Xu hướng phát triển kinh tế thế giới và định hướng phát triển kinh tế của chính phủ Việt Nam

6.1.1. Xu hướng phát triển kinh tế thế giới

6.1.2. Định hướng phát triển kinh tế của chính phủ Việt Nam

6.1.3. Gợi ý kịch bản kinh tế Việt Nam 2021 - 2030

6.2. Những hàm ý chính sách cho Việt Nam

6.2.1. Tăng trưởng nhờ tăng năng suất lao động

6.2.2. Thúc đẩy vai trò của khoa học công nghệ đối với tăng trưởng

6.2.3. Đổi mới và nâng cao chất lượng thể chế

6.2.4. Chính phủ can thiệp vào nền kinh tế một cách linh hoạt và hiệu quả

6.2.5. Nâng cao hiệu quả chi tiêu công và hiệu quả hoạt động vốn đầu tư

6.2.6. Tận dụng cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế - Nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng FDI

6.2.7. Một số hàm ý chính sách khác

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH CÁC QUỐC GIA MẮC BẪY VÀ THOÁT BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH

PHỤ LỤC 2: CÁC CÁCH TIẾP CẬN BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH TRONG CÁC NGHIÊN CỨU

PHỤ LỤC 3: ĐẶC ĐIỂM ĐẶC TRƯNG GIÚP CÁC NỀN KINH TẾ CHÂU Á VƯỢT BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH THÀNH CÔNG

PHỤ LỤC 4: CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH THU NHẬP VÀ TĂNG TRƯỞNG CỦA KINH TẾ VIỆT NAM

PHỤ LỤC 5: MÔ HÌNH ARIMA DỰ BÁO THU NHẬP CHO VIỆT NAM (THEO PHƯƠNG PHÁP CỦA FELIPE VÀ CỘNG SỰ, 2012)

PHỤ LỤC 6: DỰ BÁO GDP BQĐN CỦA VIỆT NAM THEO SỐ LIỆU IMF (PHƯƠNG PHÁP FELIPE, 2012)

PHỤ LỤC 7: KIỂM TRA TÍNH DỪNG CỦA CHUỖI THU NHẬP TƯƠNG ĐỐI THEO ADF VÀ PHILLIPS PERRON (THEO PHƯƠNG PHÁP CỦA ROBERTSON & YE, 2014)

PHỤ LỤC 8: PHƯƠNG PHÁP PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA VÀ XÂY DỰNG KỊCH BẢN KINH TẾ

PHỤ LỤC 9: BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA

BẢNG ĐIỀU TRA BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH TẠI VIỆT NAM

PHỤ LỤC 10: CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH KHẢ NĂNG VƯỢT BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2021 - 2030

Tóm tắt

I. Tổng quan về bẫy thu nhập trung bình và kinh nghiệm quốc tế

Bẫy thu nhập trung bình (BTNTB) là một khái niệm quan trọng trong kinh tế học, chỉ tình trạng các quốc gia đã đạt được mức thu nhập trung bình nhưng không thể tiến xa hơn. Nhiều quốc gia trên thế giới đã mắc phải bẫy này, dẫn đến sự trì trệ trong phát triển kinh tế. Kinh nghiệm từ các quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản và Singapore cho thấy rằng việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực là rất cần thiết để vượt qua BTNTB. Các nghiên cứu từ World Bank và IMF đã chỉ ra rằng, để thoát khỏi BTNTB, các quốc gia cần có những chính sách phát triển kinh tế bền vững và hiệu quả.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của bẫy thu nhập trung bình

BTNTB được định nghĩa là tình trạng mà một quốc gia không thể duy trì tốc độ tăng trưởng cần thiết để nâng cao thu nhập lên mức cao hơn. Các đặc điểm của BTNTB bao gồm sự phụ thuộc vào các ngành công nghiệp thâm dụng tài nguyên và thiếu đổi mới sáng tạo.

1.2. Kinh nghiệm quốc tế trong việc vượt qua bẫy thu nhập trung bình

Nhiều quốc gia đã thành công trong việc vượt qua BTNTB thông qua các chính sách phát triển kinh tế mạnh mẽ. Hàn Quốc và Nhật Bản là những ví dụ điển hình với các chiến lược đầu tư vào giáo dục và công nghệ, giúp nâng cao năng suất lao động.

II. Thách thức và vấn đề của Việt Nam trong bẫy thu nhập trung bình

Việt Nam đã đạt mức thu nhập trung bình từ năm 2009, nhưng vẫn đối mặt với nhiều thách thức trong việc duy trì tăng trưởng bền vững. Các vấn đề như chất lượng lao động thấp, đầu tư kém hiệu quả và tham nhũng đang cản trở sự phát triển. Theo báo cáo của World Bank, Việt Nam cần cải thiện năng lực cạnh tranh và đổi mới sáng tạo để tránh rơi vào BTNTB.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng vượt bẫy thu nhập trung bình của Việt Nam

Các yếu tố như chất lượng giáo dục, đầu tư vào công nghệ và chính sách phát triển kinh tế có ảnh hưởng lớn đến khả năng vượt BTNTB của Việt Nam. Cần có những cải cách mạnh mẽ để nâng cao năng lực cạnh tranh.

2.2. Tình hình kinh tế Việt Nam giai đoạn 2002 2020

Trong giai đoạn này, Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể về tăng trưởng GDP, nhưng vẫn cần phải giải quyết các vấn đề như ô nhiễm môi trường và tham nhũng để đạt được mục tiêu phát triển bền vững.

III. Phương pháp và giải pháp chính để vượt qua bẫy thu nhập trung bình

Để vượt qua BTNTB, Việt Nam cần áp dụng các phương pháp phát triển kinh tế bền vững. Các giải pháp bao gồm tăng cường đầu tư vào giáo dục, phát triển công nghệ và cải cách thể chế. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc nâng cao năng suất lao động là yếu tố quyết định trong việc thoát khỏi BTNTB.

3.1. Đầu tư vào giáo dục và phát triển nguồn nhân lực

Giáo dục chất lượng cao là yếu tố then chốt giúp nâng cao năng lực cạnh tranh. Việt Nam cần đầu tư mạnh mẽ vào giáo dục để cải thiện kỹ năng lao động và đáp ứng nhu cầu thị trường.

3.2. Thúc đẩy đổi mới sáng tạo và công nghệ

Đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ mới là cần thiết để nâng cao năng suất. Các chính sách khuyến khích nghiên cứu và phát triển sẽ giúp Việt Nam tiến xa hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về bẫy thu nhập trung bình

Nghiên cứu về BTNTB đã chỉ ra rằng các quốc gia thành công trong việc vượt qua bẫy này thường có những chính sách phát triển kinh tế đồng bộ và hiệu quả. Việt Nam có thể học hỏi từ các kinh nghiệm này để áp dụng vào thực tiễn. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc cải cách thể chế và nâng cao hiệu quả đầu tư là rất quan trọng.

4.1. Kết quả nghiên cứu từ các quốc gia thành công

Các nghiên cứu cho thấy rằng Hàn Quốc và Nhật Bản đã thành công nhờ vào các chính sách phát triển bền vững và đầu tư vào công nghệ. Việt Nam cần áp dụng những bài học này để cải thiện tình hình kinh tế.

4.2. Ứng dụng các chính sách phát triển cho Việt Nam

Việt Nam cần xây dựng các chính sách phát triển kinh tế phù hợp với bối cảnh thực tế. Việc áp dụng các chính sách này sẽ giúp Việt Nam vượt qua BTNTB và đạt được mục tiêu phát triển bền vững.

V. Kết luận và tương lai của Việt Nam trong bẫy thu nhập trung bình

Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để vượt qua BTNTB, nhưng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Việc áp dụng các chính sách phát triển bền vững và cải cách thể chế là rất cần thiết. Tương lai của Việt Nam phụ thuộc vào khả năng cải cách và đổi mới để nâng cao năng lực cạnh tranh.

5.1. Tương lai của kinh tế Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu

Kinh tế Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển, nhưng cần phải cải thiện năng lực cạnh tranh và đổi mới sáng tạo để không bị rơi vào BTNTB.

5.2. Đề xuất chính sách cho Việt Nam trong giai đoạn tới

Việt Nam cần xây dựng các chính sách phát triển kinh tế bền vững, tập trung vào giáo dục, công nghệ và cải cách thể chế để đạt được mục tiêu phát triển cao hơn.

18/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH 1. Cách xác định BTNTB trong các nghiên cứu Thuật ngữ BTNTB được đưa ra một cách gián tiếp bởi Garret (2004) khi quan sát thấy tốc độ tăng trưởng của các nước TNTB đã bị đình trệ kể từ những năm 1980. Thuật ngữ BTNTB được định nghĩa lần đầu tiên bởi Gill và Kharas (2007) trong báo cáo “An East Asian Renaissance”, kể từ đó thuật ngữ BTNTB trong nghiên cứu học thuật đã được phổ biến nhanh chóng.

Tính đến ngày 1 tháng 6 năm 2021, trên Google Scholar, có tới hơn 300 bài báo khoa học với thuật ngữ BTNTB (Middle income trap) trong tiêu đề. Trong số đó, các bài báo có số lượng trích dẫn nhiều nhất bao gồm nghiên cứu của: Felipe và cộng sự (2012), Aiyar và cộng sự (2013), Egawa (2013), Eichengreen và cộng sự (2013), Islam (2015), Kharas và Kohli (2011), Lin và Treichel (2012). Trong những năm gần đây, có một số nghiên cứu đặt câu hỏi về sự tồn tại của BTNTB như Barro (2016) cho rằng “Sự chuyển dịch từ mức TNTB lên TN cao là khó khăn nhưng không có bằng chứng chỉ ra sự chuyển dịch này khó hơn so với chuyển từ mức TN thấp lên TNTB”, như vậy, BTNTB cũng không khác biệt so với bẫy thu nhập thấp. Nghiên cứu của Im và Rosenblatt (2013) cũng đồng tình tới quan điểm này.

Tuy vậy, hầu hết các nghiên cứu đều thống nhất rằng BTNTB có tồn tại và là hiện tượng đang ảnh hưởng lớn tới nhiều nước trên thế giới. Vấn đề BTNTB đã được nghiên cứu bởi rất nhiều học giả (Ohno, 2009; Eichengreen và cộng sự, 2011; Spence, 2011; Agenor và Canuto, 2012; Felipe và cộng sự, 2012; Tran Van Tho, 2013; Aiyar và cộng sự, 2012; …). Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu lại đưa ra một khái niệm khác nhau về BTNTB, nhìn chung chưa có một định nghĩa thống nhất về “BTNTB”, mặc dù hiện tượng rơi vào BTNTB đang diễn ra. Ngoài ra, cách viết về các quốc gia được coi là rơi vào BTNTB cũng rất khác biệt trong các nghiên cứu như “được coi là BTNTB” (so-called middle-income trap) (Wheatley, 2010), hoặc “BTNTB, nếu bẫy này tồn tại” (middle-income trap, if such traps exist) (World Bank, 2010).

Spence không sử dụng từ “bẫy” nhưng cũng chỉ ra “chuyển đổi từ TNTB sang thu nhập cao là rất khó khăn” (Spence, 2011). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 cho thấy tổng số lượt tìm kiếm tương đối trong Google trends cho cụm từ “middle income trap” từ năm 2010 tới 2021 minh họa cho sự quan tâm tới BTNTB ngày càng tăng kể từ năm 2011.1: Kết quả tìm kiếm Google cho chủ đề Bẫy thu nhập trung bình (Middle income trap) trong tổng số tìm kiếm Nguồn: Tác giả tổng hợp dựa trên kết quả Google trends1, 2021 1.1 Cách xác định BTNTB Có hai cách xác định BTNTB bao gồm: cách tiếp cận tuyệt đối và cách tiếp cận tương đối. Cách tiếp cận tuyệt đối Cách tiếp cận tuyệt đối dựa trên các mức TNTB tuyệt đối. Các tác giả như Spence (2011), Felipe (2012), Aiyar và cộng sự (2013) Eichengreen, Park và Shin (2013) sử dụng các giá trị tuyệt đối cho các ngưỡng thu nhập và dựa theo cách phân loại thu nhập của World Bank (Phụ lục 2.

Nhìn chung, cách tiếp cận tuyệt đối có ưu điểm là đưa ra khái niệm và cách xác định các nước rơi hay thoát BTNTB một cách rõ ràng. Mặc dù TNBQĐN không phản ánh hoàn toàn mức độ phát triển của một quốc gia nhưng cũng có mối quan hệ mật thiết với các chỉ tiêu như chất lượng cuộc sống, tuổi thọ, tỷ lệ đi học… Nhược điểm của cách tiếp cận này là khi giữ các mốc TN cố định để phân nhóm nước thì theo thời gian mốc TN này không còn phản 1 Google Trends, Cụm từ Tìm kiếm: “Middle income trap”, truy cập trực tuyến 30. Thông tin về Google Trends: “điểm số 100 phản ánh cụm từ được tìm kiếm rất phổ biến, điểm số 50 là phổ biến ở mức trung bình, điểm số dưới 50 là ít phổ biến ”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 ánh chính xác kinh tế của một nước, nhất là không phản ánh được tương quan TN với các quốc gia khác.

Spence (2011) là người đầu tiên đưa ra khoảng TN cố định để xác định BTNTB, theo đó một nước rơi vào BTNTB khi có TNBQĐN từ 5000 USD tới 10000 USD vì nền kinh tế sẽ đối mặt với nhiều thử thách khi chuyển từ giai đoạn phát triển này sang mức TN cao. Felipe và cộng sự (2012) phân tích GDP PPP1990 của 124 quốc gia dựa trên bộ số liệu Maddison 2010, do bộ số liệu Maddison 2010 có số liệu tăng trưởng tới năm 2008, các tác giả đã mở rộng số liệu tới 2010 nhờ việc sử dụng tăng trưởng GDP BQĐN (theo local currency và constant prices) từ cơ sở dữ liệu của World Economic Outlook, IMF. Cách phân loại nhóm nước theo TN của World Bank thông thường dựa theo GNI BQĐN, do đó không thể áp dụng trực tiếp để phân loại dữ liệu của Maddison. Các tác giả đã lựa chọn các ngưỡng thu nhập để đảm bảo các nước được xếp loại TN thấp, TNTB thấp, TNTB cao và TN cao ở từng năm giống nhất với kết quả phân loại mà World Bank đưa ra.

Cuối cùng các tác giả chọn được cách phân loại theo bốn ngưỡng thu nhập sau: thu nhập thấp (dưới 2000 USD), TNTB thấp (2000 – 7250USD), TNTB cao (7250 – 11750 USD) và thu nhập cao (11750 USD). Sau đó chỉ ra một quốc gia được coi là rơi vào BTNTB thấp nếu đã ở trong mức thu nhập này hơn 28 năm, một quốc gia rơi vào BTNTB cao nếu đã ở trong mức thu nhập này hơn 14 năm. Và để vượt qua TNTB thấp cần tốc độ tăng trưởng trung bình tối thiểu 4.7%/năm, trong khi để vượt qua TNTB cao cần tốc độ tăng trưởng 3.5%/năm trong giai đoạn nêu trên. Eichengreen (2013) định nghĩa BTNTB là sự tăng trưởng chậm lại của các nền kinh tế thị trường mới nổi.

Theo họ, một quốc gia đối mặt với tăng trưởng chậm lại ở thời gian t nếu: (1) Tốc độ tăng trưởng bình quân trong 7 năm của TNBQĐN là 3,5% hoặc lớn hơn so với thời điểm t. Tác giả kết luận rằng, tăng trưởng chậm lại chủ yếu xảy ra ở thời điểm chuyển giao thu nhập từ $10000 -11000, và $15000-16000. Nghiên cứu này cập nhật so với nghiên cứu năm 2011 (PWT 6.3) của tác giả do sử dụng PWT 7. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Aiyar và các cộng sự (2013) trong bài nghiên cứu “Tăng trưởng chậm lại và BTNTB” nêu rõ BTNTB là hiện tượng các quốc gia tăng trưởng nhanh, sau khi đạt được mức TNTB không thể tiếp tục tiến lên mức thu nhập cao.

Nghiên cứu chỉ ra BTNTB thực tế là trường hợp đặc biệt của “tăng trưởng chậm lại”. Aiyar chọn ngưỡng TNTB thấp là $2000 và cao là $15000. Tác giả dùng dữ liệu về TNTB cho 138 quốc gia trong 11 thời kỳ (1955 và 2009). Trước tiên, thực hiện hồi quy, với tỷ lệ tăng trưởng của TNBQĐN (dùng trung bình nhân của 5 năm) là biến phụ thuộc, và mức độ trễ của thu nhập cũng như vốn là các biến độc lập.

Kết quả hồi quy này cho ra một tốc độ tăng trưởng dự kiến của mỗi nước tại từng thời điểm. Phần chênh lệch res t là sự khác nhau giữa tỷ lệ tăng trưởng thực tế và dự kiến của nước i tại thời điểm t. Theo đó, quốc gia i bị tăng trưởng chậm lại khi phần chênh lệch nhỏ hơn đáng kể so với thời điểm trước đó (t-1) và cũng nhỏ hơn thời điểm tiếp theo (t+1), trong đó mỗi thời kỳ t là 5 năm. Tóm lại, quá trình tăng trưởng chậm lại kéo dài ít nhất 10 năm.

Tác giả chỉ ra 123 lần tăng trưởng chậm lại từ 1960 (11% tổng số mẫu). Tác giả cũng kết luận rằng các nước TNTB thường bị tăng trưởng chậm lại nhiều hơn so với các nước có thu nhập thấp hoặc cao. Islam (2015) có cách tiếp cận khác khi nghiên cứu TNBQĐN của các nước vào bốn thời điểm, năm 1980, 1990, 2000 và 2010, sao đó xếp các quốc gia vào nhóm nước TN thấp, TNTB thấp, TNTB cao và TN cao theo cách định nghĩa của World Bank. Một quốc gia được xếp là rơi vào BTNTB khi ở cả bốn mốc thời gian này đều có TNTB cao vì quốc gia đó đã không chuyển được sang mốc TN cao sau 40 năm.

Các nhà kinh tế học của Morgan Stanley khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nghiên cứu các giai đoạn phát triển của lịch sử thế giới và phát hiện ra rằng, trong lịch sử, tăng trưởng của một nền kinh tế sẽ bị suy giảm sau một số năm tăng trưởng cao. Thời điểm suy giảm tăng trưởng thường rơi vào mức GDP BQĐN PPP là 7000USD. Dựa trên số liệu của Angus Maddison, họ tìm ra rằng trong 100 năm qua có tới 40 nền kinh tế bị suy giảm tăng trưởng khi đạt mức TN 7000 USD, trong đó 31 nước có mức suy giảm tăng trưởng trung bình 2,8% sau khi đạt mức TN kể trên (Wang và cộng sự, 2009). Ngoài những nghiên cứu kể trên, Egawa (2013), Yiping và các cộng sự (2014), Dalgic và các cộng sự (2014) and Bozkurt và các cộng sự (2014) cũng nghiên cứu về BTNTB theo cách tiếp cận tuyệt đối.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Nhìn chung, cách tiếp cận tuyệt đối có ưu điểm là đưa ra khái niệm và cách xác định các nước rơi hay thoát BTNTB một cách rõ ràng. Mặc dù TNBQĐN không phản ánh hoàn toàn mức độ phát triển của một quốc gia nhưng cũng có mối quan hệ mật thiết với các chỉ tiêu như chất lượng cuộc sống, tuổi thọ, tỷ lệ đi học… Nhược điểm của cách tiếp cận này là khi giữ các mốc TN cố định để phân nhóm nước thì theo thời gian mốc TN này không còn phản ánh chính xác kinh tế của một nước, nhất là không phản ánh được tương quan TN với các quốc gia khác. Cách tiếp cận tương đối Cách tiếp cận “tương đối” dựa theo TNBQĐN khi so sánh với Mỹ hoặc một quốc gia phát triển khác. BTNTB tập trung vào nghiên cứu các nước thất bại trong việc đuổi kịp các nước phát triển như Mỹ và Nhật.

Các nghiên cứu lựa chọn cách tiếp cận tương đối lập luận rằng mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia là đạt được mức thu nhập cao như các nước phát triển nhất, do đó không nên chỉ nhìn vào thu nhập tuyệt đối của quốc gia đó mà phải có sự so sánh với một quốc gia phát triển (Cai, 2012).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và chính sách cho Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về thách thức mà Việt Nam đang đối mặt trong việc thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình. Tác giả phân tích các kinh nghiệm quốc tế và đề xuất các chính sách cụ thể nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Một trong những điểm nổi bật là tầm quan trọng của việc cải cách thể chế và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Tài liệu này không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về bẫy thu nhập trung bình mà còn cung cấp những giải pháp khả thi cho Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ở việt nam, nơi bàn về các chính sách có thể giúp doanh nghiệp phát triển và đóng góp vào nền kinh tế. Ngoài ra, tài liệu nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế việt nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách thức Việt Nam có thể cải thiện vị thế của mình trên trường quốc tế. Cuối cùng, tài liệu phát triển kinh tế huyện mù cang chải giai đoạn 2000-2012 cung cấp cái nhìn cụ thể về phát triển kinh tế ở cấp địa phương, từ đó rút ra bài học cho các khu vực khác. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề kinh tế hiện nay.