CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH 1. Cách xác định BTNTB trong các nghiên cứu Thuật ngữ BTNTB được đưa ra một cách gián tiếp bởi Garret (2004) khi quan sát thấy tốc độ tăng trưởng của các nước TNTB đã bị đình trệ kể từ những năm 1980. Thuật ngữ BTNTB được định nghĩa lần đầu tiên bởi Gill và Kharas (2007) trong báo cáo “An East Asian Renaissance”, kể từ đó thuật ngữ BTNTB trong nghiên cứu học thuật đã được phổ biến nhanh chóng.
Tính đến ngày 1 tháng 6 năm 2021, trên Google Scholar, có tới hơn 300 bài báo khoa học với thuật ngữ BTNTB (Middle income trap) trong tiêu đề. Trong số đó, các bài báo có số lượng trích dẫn nhiều nhất bao gồm nghiên cứu của: Felipe và cộng sự (2012), Aiyar và cộng sự (2013), Egawa (2013), Eichengreen và cộng sự (2013), Islam (2015), Kharas và Kohli (2011), Lin và Treichel (2012). Trong những năm gần đây, có một số nghiên cứu đặt câu hỏi về sự tồn tại của BTNTB như Barro (2016) cho rằng “Sự chuyển dịch từ mức TNTB lên TN cao là khó khăn nhưng không có bằng chứng chỉ ra sự chuyển dịch này khó hơn so với chuyển từ mức TN thấp lên TNTB”, như vậy, BTNTB cũng không khác biệt so với bẫy thu nhập thấp. Nghiên cứu của Im và Rosenblatt (2013) cũng đồng tình tới quan điểm này.
Tuy vậy, hầu hết các nghiên cứu đều thống nhất rằng BTNTB có tồn tại và là hiện tượng đang ảnh hưởng lớn tới nhiều nước trên thế giới. Vấn đề BTNTB đã được nghiên cứu bởi rất nhiều học giả (Ohno, 2009; Eichengreen và cộng sự, 2011; Spence, 2011; Agenor và Canuto, 2012; Felipe và cộng sự, 2012; Tran Van Tho, 2013; Aiyar và cộng sự, 2012; …). Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu lại đưa ra một khái niệm khác nhau về BTNTB, nhìn chung chưa có một định nghĩa thống nhất về “BTNTB”, mặc dù hiện tượng rơi vào BTNTB đang diễn ra. Ngoài ra, cách viết về các quốc gia được coi là rơi vào BTNTB cũng rất khác biệt trong các nghiên cứu như “được coi là BTNTB” (so-called middle-income trap) (Wheatley, 2010), hoặc “BTNTB, nếu bẫy này tồn tại” (middle-income trap, if such traps exist) (World Bank, 2010).
Spence không sử dụng từ “bẫy” nhưng cũng chỉ ra “chuyển đổi từ TNTB sang thu nhập cao là rất khó khăn” (Spence, 2011). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 cho thấy tổng số lượt tìm kiếm tương đối trong Google trends cho cụm từ “middle income trap” từ năm 2010 tới 2021 minh họa cho sự quan tâm tới BTNTB ngày càng tăng kể từ năm 2011.1: Kết quả tìm kiếm Google cho chủ đề Bẫy thu nhập trung bình (Middle income trap) trong tổng số tìm kiếm Nguồn: Tác giả tổng hợp dựa trên kết quả Google trends1, 2021 1.1 Cách xác định BTNTB Có hai cách xác định BTNTB bao gồm: cách tiếp cận tuyệt đối và cách tiếp cận tương đối. Cách tiếp cận tuyệt đối Cách tiếp cận tuyệt đối dựa trên các mức TNTB tuyệt đối. Các tác giả như Spence (2011), Felipe (2012), Aiyar và cộng sự (2013) Eichengreen, Park và Shin (2013) sử dụng các giá trị tuyệt đối cho các ngưỡng thu nhập và dựa theo cách phân loại thu nhập của World Bank (Phụ lục 2.
Nhìn chung, cách tiếp cận tuyệt đối có ưu điểm là đưa ra khái niệm và cách xác định các nước rơi hay thoát BTNTB một cách rõ ràng. Mặc dù TNBQĐN không phản ánh hoàn toàn mức độ phát triển của một quốc gia nhưng cũng có mối quan hệ mật thiết với các chỉ tiêu như chất lượng cuộc sống, tuổi thọ, tỷ lệ đi học… Nhược điểm của cách tiếp cận này là khi giữ các mốc TN cố định để phân nhóm nước thì theo thời gian mốc TN này không còn phản 1 Google Trends, Cụm từ Tìm kiếm: “Middle income trap”, truy cập trực tuyến 30. Thông tin về Google Trends: “điểm số 100 phản ánh cụm từ được tìm kiếm rất phổ biến, điểm số 50 là phổ biến ở mức trung bình, điểm số dưới 50 là ít phổ biến ”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 ánh chính xác kinh tế của một nước, nhất là không phản ánh được tương quan TN với các quốc gia khác.
Spence (2011) là người đầu tiên đưa ra khoảng TN cố định để xác định BTNTB, theo đó một nước rơi vào BTNTB khi có TNBQĐN từ 5000 USD tới 10000 USD vì nền kinh tế sẽ đối mặt với nhiều thử thách khi chuyển từ giai đoạn phát triển này sang mức TN cao. Felipe và cộng sự (2012) phân tích GDP PPP1990 của 124 quốc gia dựa trên bộ số liệu Maddison 2010, do bộ số liệu Maddison 2010 có số liệu tăng trưởng tới năm 2008, các tác giả đã mở rộng số liệu tới 2010 nhờ việc sử dụng tăng trưởng GDP BQĐN (theo local currency và constant prices) từ cơ sở dữ liệu của World Economic Outlook, IMF. Cách phân loại nhóm nước theo TN của World Bank thông thường dựa theo GNI BQĐN, do đó không thể áp dụng trực tiếp để phân loại dữ liệu của Maddison. Các tác giả đã lựa chọn các ngưỡng thu nhập để đảm bảo các nước được xếp loại TN thấp, TNTB thấp, TNTB cao và TN cao ở từng năm giống nhất với kết quả phân loại mà World Bank đưa ra.
Cuối cùng các tác giả chọn được cách phân loại theo bốn ngưỡng thu nhập sau: thu nhập thấp (dưới 2000 USD), TNTB thấp (2000 – 7250USD), TNTB cao (7250 – 11750 USD) và thu nhập cao (11750 USD). Sau đó chỉ ra một quốc gia được coi là rơi vào BTNTB thấp nếu đã ở trong mức thu nhập này hơn 28 năm, một quốc gia rơi vào BTNTB cao nếu đã ở trong mức thu nhập này hơn 14 năm. Và để vượt qua TNTB thấp cần tốc độ tăng trưởng trung bình tối thiểu 4.7%/năm, trong khi để vượt qua TNTB cao cần tốc độ tăng trưởng 3.5%/năm trong giai đoạn nêu trên. Eichengreen (2013) định nghĩa BTNTB là sự tăng trưởng chậm lại của các nền kinh tế thị trường mới nổi.
Theo họ, một quốc gia đối mặt với tăng trưởng chậm lại ở thời gian t nếu: (1) Tốc độ tăng trưởng bình quân trong 7 năm của TNBQĐN là 3,5% hoặc lớn hơn so với thời điểm t. Tác giả kết luận rằng, tăng trưởng chậm lại chủ yếu xảy ra ở thời điểm chuyển giao thu nhập từ $10000 -11000, và $15000-16000. Nghiên cứu này cập nhật so với nghiên cứu năm 2011 (PWT 6.3) của tác giả do sử dụng PWT 7. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Aiyar và các cộng sự (2013) trong bài nghiên cứu “Tăng trưởng chậm lại và BTNTB” nêu rõ BTNTB là hiện tượng các quốc gia tăng trưởng nhanh, sau khi đạt được mức TNTB không thể tiếp tục tiến lên mức thu nhập cao.
Nghiên cứu chỉ ra BTNTB thực tế là trường hợp đặc biệt của “tăng trưởng chậm lại”. Aiyar chọn ngưỡng TNTB thấp là $2000 và cao là $15000. Tác giả dùng dữ liệu về TNTB cho 138 quốc gia trong 11 thời kỳ (1955 và 2009). Trước tiên, thực hiện hồi quy, với tỷ lệ tăng trưởng của TNBQĐN (dùng trung bình nhân của 5 năm) là biến phụ thuộc, và mức độ trễ của thu nhập cũng như vốn là các biến độc lập.
Kết quả hồi quy này cho ra một tốc độ tăng trưởng dự kiến của mỗi nước tại từng thời điểm. Phần chênh lệch res t là sự khác nhau giữa tỷ lệ tăng trưởng thực tế và dự kiến của nước i tại thời điểm t. Theo đó, quốc gia i bị tăng trưởng chậm lại khi phần chênh lệch nhỏ hơn đáng kể so với thời điểm trước đó (t-1) và cũng nhỏ hơn thời điểm tiếp theo (t+1), trong đó mỗi thời kỳ t là 5 năm. Tóm lại, quá trình tăng trưởng chậm lại kéo dài ít nhất 10 năm.
Tác giả chỉ ra 123 lần tăng trưởng chậm lại từ 1960 (11% tổng số mẫu). Tác giả cũng kết luận rằng các nước TNTB thường bị tăng trưởng chậm lại nhiều hơn so với các nước có thu nhập thấp hoặc cao. Islam (2015) có cách tiếp cận khác khi nghiên cứu TNBQĐN của các nước vào bốn thời điểm, năm 1980, 1990, 2000 và 2010, sao đó xếp các quốc gia vào nhóm nước TN thấp, TNTB thấp, TNTB cao và TN cao theo cách định nghĩa của World Bank. Một quốc gia được xếp là rơi vào BTNTB khi ở cả bốn mốc thời gian này đều có TNTB cao vì quốc gia đó đã không chuyển được sang mốc TN cao sau 40 năm.
Các nhà kinh tế học của Morgan Stanley khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nghiên cứu các giai đoạn phát triển của lịch sử thế giới và phát hiện ra rằng, trong lịch sử, tăng trưởng của một nền kinh tế sẽ bị suy giảm sau một số năm tăng trưởng cao. Thời điểm suy giảm tăng trưởng thường rơi vào mức GDP BQĐN PPP là 7000USD. Dựa trên số liệu của Angus Maddison, họ tìm ra rằng trong 100 năm qua có tới 40 nền kinh tế bị suy giảm tăng trưởng khi đạt mức TN 7000 USD, trong đó 31 nước có mức suy giảm tăng trưởng trung bình 2,8% sau khi đạt mức TN kể trên (Wang và cộng sự, 2009). Ngoài những nghiên cứu kể trên, Egawa (2013), Yiping và các cộng sự (2014), Dalgic và các cộng sự (2014) and Bozkurt và các cộng sự (2014) cũng nghiên cứu về BTNTB theo cách tiếp cận tuyệt đối.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Nhìn chung, cách tiếp cận tuyệt đối có ưu điểm là đưa ra khái niệm và cách xác định các nước rơi hay thoát BTNTB một cách rõ ràng. Mặc dù TNBQĐN không phản ánh hoàn toàn mức độ phát triển của một quốc gia nhưng cũng có mối quan hệ mật thiết với các chỉ tiêu như chất lượng cuộc sống, tuổi thọ, tỷ lệ đi học… Nhược điểm của cách tiếp cận này là khi giữ các mốc TN cố định để phân nhóm nước thì theo thời gian mốc TN này không còn phản ánh chính xác kinh tế của một nước, nhất là không phản ánh được tương quan TN với các quốc gia khác. Cách tiếp cận tương đối Cách tiếp cận “tương đối” dựa theo TNBQĐN khi so sánh với Mỹ hoặc một quốc gia phát triển khác. BTNTB tập trung vào nghiên cứu các nước thất bại trong việc đuổi kịp các nước phát triển như Mỹ và Nhật.
Các nghiên cứu lựa chọn cách tiếp cận tương đối lập luận rằng mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia là đạt được mức thu nhập cao như các nước phát triển nhất, do đó không nên chỉ nhìn vào thu nhập tuyệt đối của quốc gia đó mà phải có sự so sánh với một quốc gia phát triển (Cai, 2012).