Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò là xương sống của nền kinh tế Việt Nam với khoảng 480.000 doanh nghiệp đang hoạt động, chiếm tới 98% tổng số doanh nghiệp trên toàn quốc. Hàng năm, khối kinh tế này tạo ra hơn 1 triệu việc làm mới, sử dụng 51% lực lượng lao động xã hội và đóng góp hơn 40% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Nhận thức rõ tầm quan trọng chiến lược đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/05/2016 với mục tiêu phát triển ít nhất 1 triệu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả vào năm 2020, đồng nghĩa với việc cần thành lập mới thêm 520.000 doanh nghiệp.

Tuy nhiên, thực tiễn phát triển đang đặt ra nhiều thách thức gay gắt. Trong giai đoạn 2005 - 2013, tỷ lệ doanh nghiệp thực sự đi vào hoạt động và duy trì sản xuất kinh doanh chỉ đạt mức khiêm tốn khoảng 45% so với tổng số đăng ký thành lập, cá biệt năm 2009 chỉ đạt 35,2%. Các rào cản cố hữu về khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng, công nghệ sản xuất lạc hậu, hạn chế mặt bằng kinh doanh và thiếu hụt nhân lực chất lượng cao đã làm suy giảm nghiêm trọng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng hệ thống chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam trong phạm vi thời gian từ năm 2011 đến tháng 06/2017 trên quy mô toàn quốc, bao gồm 5 nhóm chính sách trọng tâm: tín dụng, thuế, đất đai, xúc tiến thương mại và phát triển nguồn nhân lực. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi đưa ra các giải pháp giải phóng nguồn vốn xã hội ước tính đạt 5.460 nghìn tỷ đồng (tương đương 224,8 tỷ USD), hướng tới mục tiêu nâng tỷ trọng đóng góp ngân sách nhà nước của khối doanh nghiệp này lên trên 35% vào năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết chính sách công hiện đại của Anderson (1994), William Jenkins (1978) và Althaus, Bridgman & Davis (2007). Theo đó, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được định nghĩa là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, giải pháp và công cụ quản lý nhà nước nhằm tác động có chủ đích vào môi trường kinh doanh, thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững và đóng góp tối ưu vào các mục tiêu kinh tế xã hội quốc gia.

Về phân loại doanh nghiệp, nghiên cứu kế thừa các quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP và Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017. Doanh nghiệp được phân định thành ba cấp bậc cụ thể theo tiêu chí lao động và quy mô vốn:

  • Doanh nghiệp siêu nhỏ: Sử dụng không quá 10 lao động, tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng và thương mại dịch vụ.
  • Doanh nghiệp nhỏ: Có từ trên 10 đến dưới 200 lao động (đối với nông nghiệp, công nghiệp) hoặc dưới 50 lao động (đối với thương mại dịch vụ); tổng nguồn vốn dao động từ trên 20 tỷ đồng đến dưới 100 tỷ đồng.
  • Doanh nghiệp vừa: Quy mô lao động từ trên 200 đến dưới 300 lao động và tổng nguồn vốn từ trên 20 tỷ đồng đến dưới 100 tỷ đồng.

Nghiên cứu xây dựng khung phân tích dựa trên 5 nhóm chính sách công cụ (tín dụng, thuế, mặt bằng sản xuất, xúc tiến thương mại, đào tạo nhân lực) và đánh giá thông qua hệ thống 6 tiêu chí chuẩn mực: tính phù hợp, tính hiệu quả, tính công bằng, tính khả thi, tính hiệu lực và tính công khai minh bạch.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp phân tích lịch sử và logic. Về nguồn dữ liệu, tác giả sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu bàn giấy từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo thường niên của Cục Phát triển doanh nghiệp thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng các báo cáo chuyên đề của Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trong giai đoạn 2005 - 2017.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao phủ toàn bộ dữ liệu thống kê tổng thể quốc gia với hơn 480.000 doanh nghiệp đang hoạt động, được phân tầng theo ba khu vực sở hữu: khu vực ngoài nhà nước (98,6% là doanh nghiệp nhỏ và vừa), khu vực nhà nước (59,3% là doanh nghiệp nhỏ và vừa) và khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI (78,8% là doanh nghiệp nhỏ và vừa). Việc lựa chọn toàn bộ dữ liệu thống kê quốc gia bảo đảm tính đại diện tuyệt đối và triệt tiêu sai số chọn mẫu.

Phương pháp phân tích được áp dụng gồm phân tích định tính đa chiều, phân tích tài liệu văn bản, thống kê mô tả và phương pháp tổng hợp so sánh. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là nhằm đối chiếu khách quan giữa mục tiêu quy định trong các văn bản pháp luật với kết quả thực thi định lượng trong thực tế, từ đó nhận diện chính xác các khoảng trống chính sách qua từng giai đoạn phát triển kinh tế vĩ mô.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa giữ vai trò trụ cột trong việc huy động vốn đầu tư toàn xã hội và duy trì tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội. Giai đoạn 2009 - 2013, khối doanh nghiệp ngoài nhà nước luôn duy trì tỷ trọng đóng góp từ 48% đến 49% tổng GDP toàn quốc. Vốn đầu tư toàn xã hội của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng trưởng ấn tượng từ mức 30%/năm (giai đoạn 2005 - 2009) lên gần 140%/năm (giai đoạn 2010 - 2013). Đặc biệt vào năm 2013, tỷ trọng vốn đầu tư của khối này chiếm tới 86,2% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, trong khi khối doanh nghiệp lớn giảm mạnh từ mức gần 60% xuống chỉ còn 39%.

Thứ hai, đóng góp vào tạo việc làm xã hội gia tăng liên tục nhưng tỷ trọng đóng góp vào ngân sách nhà nước lại sụt giảm. Lực lượng lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng từ 4,35 triệu người năm 2010 lên 5,17 triệu người vào cuối năm 2013, nâng tỷ trọng lao động đảm nhiệm từ 36% năm 2005 lên 45,3% năm 2013. Ngược lại, do tác động suy thoái kinh tế sau năm 2011, đóng góp thuế của khu vực này sụt giảm từ 181 nghìn tỷ đồng (chiếm 41,2% tổng thu ngân sách) năm 2010 xuống còn 184,6 nghìn tỷ đồng (chỉ chiếm 29,2% tổng thu ngân sách) vào năm 2013.

Thứ ba, chính sách bảo lãnh tín dụng và tiếp cận vốn ngân hàng bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã ban hành chính sách điều chỉnh trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên thấp hơn 1% đến 2%/năm, khả năng tiếp cận vốn thực tế của doanh nghiệp vẫn rất thấp. Đáng chú ý, cơ chế bảo lãnh vay vốn qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) theo Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg đã bị đình trệ từ năm 2011 do quy trình thẩm định hai vòng trùng lặp và yêu cầu tài sản thế chấp khắt khe, làm mất đi ý nghĩa của công cụ bảo lãnh tín dụng chính sách.

Thảo luận kết quả

Sự suy giảm tỷ trọng đóng góp ngân sách nhà nước của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn 2011 - 2013 phản ánh rõ nét tính dễ tổn thương của khu vực này trước các cú sốc vĩ mô. Hầu hết các doanh nghiệp khởi nghiệp từ quy mô vốn nhỏ tự có (bình quân khoảng 10,5 tỷ đồng/doanh nghiệp), trình độ máy móc thiết bị lạc hậu dẫn đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cao hơn các đối thủ cạnh tranh từ Thái Lan, Trung Quốc hay Malaysia.

Để phản ánh trực quan diễn biến này, dữ liệu nghiên cứu có thể được hệ thống hóa qua biểu đồ cột chồng thể hiện sự chuyển dịch tỷ trọng vốn đầu tư giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa so với doanh nghiệp quy mô lớn qua các năm 2005 - 2013. Đi kèm với đó là bảng tổng hợp cơ cấu lao động và tỷ trọng đóng góp GDP theo 3 khu vực sở hữu (nhà nước, ngoài nhà nước và FDI) nhằm làm rõ vai trò bù đắp tăng trưởng kinh tế của khu vực tư nhân khi khối doanh nghiệp nhà nước thu hẹp tỷ trọng từ 37,72% năm 2009 xuống 32,86% năm 2013.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế, các quốc gia phát triển áp dụng cơ chế tài chính linh hoạt và chủ động hơn rất nhiều. Tại Nhật Bản, nơi doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo ra 56.000 tỷ Yên giá trị gia tăng (khoảng 721 tỷ USD), chính phủ thực hiện chính sách cấp vốn trực tiếp lãi suất thấp dài hạn và bảo hộ rủi ro kỹ thuật. Tại Singapore, Quỹ Nghiên cứu Quốc gia (NRF) cấp vốn đối ứng theo tỷ lệ 1:5 (mỗi 1 SGD của vườn ươm được NRF bổ sung 5 SGD lên tới 500.000 SGD) và chương trình TIS hỗ trợ tới 85% giá trị đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ. Việc thiếu vắng các quỹ đầu tư mạo hiểm công và cơ chế chia sẻ rủi ro tài chính tại Việt Nam là nguyên nhân chính khiến doanh nghiệp nội địa khó bứt phá về đổi mới sáng tạo.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc toàn diện cơ chế bảo lãnh tín dụng và mở rộng cho vay tín chấp. Ngân hàng Nhà nước cùng Bộ Tài chính cần sửa đổi ngay các quy định tại Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg, xóa bỏ điều kiện bắt buộc có tài sản bảo đảm khi doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận Quỹ bảo lãnh tín dụng. Thay vào đó, thiết lập cơ chế thẩm định một cửa dựa trên tính khả thi của phương án kinh doanh và dòng tiền dự án. Chỉ đạo các ngân hàng thương mại áp dụng khung lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suất thông thường từ 1,5% đến 2,0%/năm. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ tiếp cận vốn vay ngân hàng của doanh nghiệp lên mức 60% vào năm 2020, hoàn thành khung pháp lý sửa đổi trước quý II/2018.

Thứ hai, cải cách hệ thống chính sách thuế tạo động lực tích lũy vốn. Bộ Tài chính cần nghiên cứu áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi giảm từ 3% đến 5% so với mức thuế phổ thông dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ trong 3 năm đầu thành lập. Đơn giản hóa tối đa chế độ kế toán và thủ tục kê khai thuế điện tử nhằm cắt giảm 20% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, triển khai đồng bộ ngay sau khi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có hiệu lực từ năm 2018.

Thứ ba, đổi mới quy hoạch đất đai và hỗ trợ mặt bằng sản xuất kinh doanh. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cần quy hoạch dành riêng tối thiểu 5% đến 10% diện tích đất tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê lại. Áp dụng chính sách hỗ trợ từ 30% đến 50% chi phí thuê mặt bằng trong thời hạn 5 năm đầu đối với các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và đổi mới công nghệ giai đoạn 2018 - 2020.

Thứ tư, đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực và xúc tiến thương mại mở rộng thị trường. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phân bổ và giải ngân hiệu quả gói ngân sách hỗ trợ 3.000 tỷ đồng thuộc 15 chương trình trọng điểm quốc gia. Đặt mục tiêu tổ chức đào tạo kỹ năng quản trị kinh doanh hiện đại và chuyển đổi số cho khoảng 50.000 cán bộ quản lý doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời hỗ trợ 100% chi phí thông tin thị trường và gian hàng hội chợ quốc tế cho doanh nghiệp xuất khẩu đến năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn xác đáng để phục vụ việc soạn thảo các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 cùng các đề án tái cơ cấu kinh tế.

Nhóm 2: Ban lãnh đạo các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng. Tài liệu giúp các định chế tài chính nhận diện chính xác nhu cầu vốn của 480.000 doanh nghiệp, từ đó thiết kế các gói sản phẩm tín dụng chuyên biệt, mô hình chấm điểm tín chấp vi mô và mở rộng dịch vụ tài trợ chuỗi cung ứng.

Nhóm 3: Các nhà sáng lập, chủ doanh nghiệp và hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa trên toàn quốc. Nội dung nghiên cứu giúp doanh nghiệp nắm bắt kịp thời các cơ chế hỗ trợ của Nhà nước về mặt bằng, ưu đãi thuế và quỹ hỗ trợ đào tạo 3.000 tỷ đồng để xây dựng chiến lược phát triển tối ưu.

Nhóm 4: Giảng viên, học viên cao học và các nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển. Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về phương pháp đánh giá chính sách công, khung lý thuyết quản lý kinh tế và hệ thống bài học kinh nghiệm quốc tế thực chứng từ Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc và Trung Quốc.

Câu hỏi thường gặp

Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam được phân loại dựa trên những tiêu chí cốt lõi nào? Theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, doanh nghiệp được phân định thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa dựa trên 2 tiêu chí là tổng nguồn vốn (tối đa không quá 100 tỷ đồng) hoặc số lao động bình quân năm đóng bảo hiểm xã hội (tối đa không quá 300 người), chia theo các ngành kinh tế cụ thể.

Tại sao tỷ trọng đóng góp ngân sách của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa lại giảm trong giai đoạn 2010 - 2013? Tỷ trọng đóng góp giảm từ 41,2% (181 nghìn tỷ đồng) năm 2010 xuống 29,2% (184,6 nghìn tỷ đồng) năm 2013 do ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, chi phí vay vốn cao và khả năng tích lũy tài chính mỏng manh khiến hàng loạt doanh nghiệp thua lỗ hoặc ngừng hoạt động.

Điểm nghẽn lớn nhất trong việc tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa là gì? Điểm nghẽn chính nằm ở quy định bắt buộc phải có tài sản thế chấp bất động sản và thủ tục thẩm định hai vòng phức tạp của các quỹ bảo lãnh tín dụng. Trong khi đó, hầu hết doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ dưới 10,5 tỷ đồng và thiếu hệ thống sổ sách kế toán minh bạch để vay tín chấp.

Việt Nam có thể học tập được kinh nghiệm gì từ mô hình hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp của Singapore? Việt Nam cần áp dụng cơ chế đồng tài trợ vốn và đầu tư mạo hiểm công như mô hình quỹ NRF (bổ sung vốn đối ứng theo tỷ lệ 1:5, tối đa 500.000 SGD cho vườn ươm) cùng chính sách tài trợ tới 85% giá trị dự án để khuyến khích thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học.

Mục tiêu phát triển doanh nghiệp của Chính phủ Việt Nam đến năm 2020 được xác định như thế nào? Theo Nghị quyết số 35/NQ-CP năm 2016, mục tiêu quốc gia là đạt ít nhất 1 triệu doanh nghiệp hoạt động vào năm 2020. Để đạt mục tiêu này, cần thành lập mới khoảng 450.000 đến 520.000 doanh nghiệp, đóng góp 40% GDP và tạo việc làm cho 50% lực lượng lao động toàn xã hội.

Kết luận

Luận văn đã thực hiện một công trình nghiên cứu công phu, mang tính hệ thống cao về thực trạng và giải pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam với 5 đóng góp học thuật và thực tiễn cốt lõi:

  • Khẳng định và lượng hóa vai trò trọng yếu của hơn 480.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa khi tạo ra 51% việc làm và đóng góp hơn 40% GDP quốc gia.
  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận chính sách công và xây dựng khung đánh giá 6 tiêu chí chuẩn mực áp dụng cho 5 nhóm chính sách công cụ hỗ trợ phát triển kinh tế.
  • Chỉ rõ thực trạng tỷ lệ doanh nghiệp hoạt động thực tế thấp ở mức 45% cùng các bất cập thể chế trong chính sách tín dụng và bảo lãnh vốn của Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm quốc tế giá trị từ Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc và Trung Quốc về cơ chế vườn ươm công nghệ và tài trợ vốn đối ứng mạo hiểm.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp mang tính khả thi cao nhằm giải phóng nguồn lực 5.460 nghìn tỷ đồng vốn tư nhân và tối ưu hóa gói hỗ trợ 3.000 tỷ đồng của Chính phủ.

Về lộ trình triển khai tiếp theo, các cơ quan ban ngành cần nhanh chóng ban hành hệ thống văn bản hướng dẫn Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn 2018 - 2020, trọng tâm là đơn giản hóa thủ tục tiếp cận tín dụng và thành lập quỹ đất chuyên biệt. Hãy cùng chung tay thúc đẩy cải cách thể chế và cải thiện môi trường kinh doanh nhằm đưa cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam tự tin hội nhập và vươn tầm quốc tế.