MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam là một trong những quốc gia đ u tiên trên thế giới k kết các công ước quốc tế về thực hiện quyền phụ nữ và quyền tr em và việc đưa những tư tưởng tiến bộ về bình đẳng giới vào gia đình được coi là một bước tiến bộ lớn tạo điều kiện về mặt pháp l để nâng cao vị tr và vai tr của người phụ nữ trong gia đình. Tuy nhiên thực hiện bình đẳng giới (BĐG) không dễ dàng. Bởi một bộ phận xã hội vẫn hiểu không đúng về bất bình đẳng giới, và những nhận thức mang tính định kiến giới, coi trọng con trai hơn con gái mặc định công việc gia đình là trách nhiệm của riêng phụ nữ… vẫn còn tồn tại nặng nề, tình trạng bạo lực gia đình vẫn tiếp tục gia tăng gây bất ổn cho xã hội.
Báo cáo tóm tắt tình hình giới của Việt Nam năm 2016 của Liên hiệp quốc tại Việt Nam cho thấy “mặc dù có một môi trường chính sách thuận lợi nhưng phân biệt đối xử với phụ nữ và tr em gái vẫn phổ biến ở Việt Nam. Vẫn có tình trạng phá bỏ thai nhi nữ do sự ưu tiên có con trai phụ nữ và tr em gái bị phân biệt đối xử trong suốt cuộc đời. Phụ nữ có quyền lực hạn chế trong nhiều lĩnh vực của đời sống, kể cả trong đời sống cá nhân và trong đời sống xã hội… Họ vẫn phải đối mặt với những rào cản trong việc tiếp cận và kiểm soát đất đai cũng như các tài sản khác, dịch vụ tài chính, tài sản thừa kế và tài nguyên thiên nhiên. Giống như ở nhiều nước khác, phụ nữ và tr em gái Việt Nam vẫn là người mang gánh nặng chính của những công việc chăm sóc không được trả lương và việc nhà.
Họ cũng bị bạo lực dưới nhiều hình thức khác nhau” [1]. Bình đẳng giới là động lực và mục tiêu phát triển quốc gia và để thực hiện được mục tiêu này, rất c n đến sự phối hợp của nhiều nhân tố, trong đó thông tin, giáo dục nâng cao nhận thức về BĐG thực hiện xóa bỏ bất BĐG quan trọng. Với tư cách là một thiết chế của xã hội nêngia đình cũng phản ánh các vấn đề của xã hội.Nhận thức của các thế hệ đi trước trong gia đình về giới và BĐG sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức và hành vi của các thế hệ sau. Khi những định kiến giới tồn tại trong cuộc sống gia đình nó sẽ được thể hiện cụ thể thông qua các hành 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vi chăm sóc giáo dục tr của cha mẹ.Ngược lại, khi các thế hệ trước nhận thức đúng đắn về bất BĐG, xóa bỏ định kiến giới thì họ sẽ truyền dạy cho các thế hệ kế tiếp những nhận thức đúng đắn.
Hiện nay, việc xóa bỏ bất BĐG trong gia đình vẫn là một cuộc chiến gian nan nhiều thách thức. Theo Báo cáo g n đây nhất của Chính phủ về kết quả thực hiện Chương trình quốc gia về BĐG trong giai đoạn 2011-2015 đã thừa nhận tiến độ BĐG ở Việt Nam vẫn còn chậm chạp đôi khi c n trì trệ, hoặc thậm chí là thụt lùi trong một số lĩnh vực. Báo cáo Khoảng cách giới toàn c u năm 2014 Việt Nam đã tụt hạng từ thứ 42 năm 2007 xuống thứ 76 năm 2014. Xuất phát từ thực tiễn đó việc thông tin định hướng nhận thức cho cộng đồng xóa bỏ bất BĐG trong gia đình là rất c n thiết, trong đó truyền thông đại chúng (TTĐC) là một kênh rất quan trọng.
Bên cạnh báo điện tử, truyền hình, phát thanh, báo in được xem là một kênh truyền thông góp ph n làm chuyển biến nhận thức và hành vi của cộng đồng dân cư về việc phòng chống bất BĐG trong các mối quan hệ gia đình xóa bỏ những định kiến giới trong vai trò của nam giới và phụ nữ, phòng chống bạo lực gia đình v.Bởi báo in là một trong những thể loại của báo chí có những thế mạnh khác biệt so với các loại hình báo ch khác như: Thứ nhất, khả năng lưu trữ thông tin cao, nhất là lưu trữ bằng tr não. Khi người đọc tiếp nhận thông tin qua mắt nhưng đồng thời với đó là tr não hoạt động, tập trung mọi nghĩ vào trong tờ báo để tiếp nhận thông tin rất hiệu quả. Khi người đọc tiếp nhận một thông tin từ báo in, họ có thể truyền tải lại thông ấy một cách chi tiết, cụ thể sinh động cho người khác nghe qua những cử chỉ điệu bộ của mình để thu hút sự lắng nghe, quan tâm của người khác. Điều này là hơn hẳn với các loại hình báo chí khác.
Thứ hai, báo in có khả năng phân t ch bình luận, lý giải sâu rộng về các vấn đề, sự kiện. Đây là một thế mạnh mà có thể nói đặc trưng nhất của báo in mà đến nay không loại hình báo chí nào có thể làm được điều này, kể cả báo mạng điện tử. Chính lợi thế này nó đã giúp báo in đứng vững và cạnh tranh với các loại hình báo chí khác trong sự phát triển nhanh chóng vượt bậc của khoa học công nghệ. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đây ch nh là l do mà tác giả chọn báo in làm kênh nghiên cứu của mình và cụ thể là hai tờ báo in: báo Phụ nữ Thủ đô (PNTĐ) và báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh (PNTPHCM).
Bên cạnh việc truyền thông góp ph n làm chuyển biến nhận thức và hành vi của cộng đồng về thực hiện BĐG ph ng chống bất BĐG trong gia đình thì cách xử lý thông tin của truyền thông (báo in)khi đề cập vấn đề giới vẫn còn nhiều bất cập. Nhiều khuôn mẫu giới định kiến giới vẫn vô tình được phản ánh trong các tác phẩm báo chí, trong các câu hỏi, lời bình, dẫn dắt của một số nhà báo. Điều này khiến cho việc truyền thông về bình đẳng giới vẫn còn hạn chế, góp ph n làm cho tiến trình thực hiện BĐG bị chậm lại ngăn cản sự phát triển của gia đình nói riêng và xã hội nói chung. Vì thế đề tài nghiên cứu "Vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình trên Báo Phụ nữ Thủ đô, Báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh năm 2015 - 2016 là một cố gắng để ph n nào đóng góp vào nỗ lực chung nhằm tìm ra giải pháp cho việc truyền thông về vấn đề BĐG trong gia đình có hiệu quả hơn trên báo PNTĐ báo PNTPHCM nói riêng và báo in nói chung.
Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của luận văn do có giới hạn nên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu ph n thông điệp bất bình đẳng giới trong gia đình thông qua các chức năng gia đình trên báo PNTĐ và báo PNTPHCM từ năm 2015-2016. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2. i n t nghiên c u tru ền thông đ i ch ng 2. Ngoài nước Nhìn chung, lịch sử nghiên cứu truyền thông được chia làm bốn giai đoạn: Giai đoạn đ u được đánh dấu từ Thế kỷ XX tới năm 30 của Thế kỷ XX: Giai đoạn hai khoảng những năm 50 - 60 của Thế kỷ XX; Giai đoạn ba bắt đ u từ những năm 60 của Thế kỷ XX và cho tới khi kết thúc Thế kỷ XX; Giai đoạn bốn bắt đ u từ Thế kỷ XXI đến nay.
Giai đoạn thứ nhất, vào giai đoạn này những người thuộc trường phái Frankfurt của Đức cho rằng truyền thông đại chúng đặc biệt ở Mỹ đã biến các cá nhân thành những khối đại chúng, làm tan rã những khối xã hội truyền thống. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Câu hỏi lớn được đặt ra cho giới nghiên cứu lúc bấy giờ là vai trò và t m quan trọng của truyền thông đại chúng đối với xã hội như thế nào? Định nghĩa của Harold Laswell về truyền thông đại chúng đúc kết trong câu nói nhiều người biết đến “Ai nói cái gì bằng kênh nào với ai với hiệu ứng thế nào” (who says what in which channel to whom with what effect) là một trong những vấn đề được thảo luận sôi nổi trong thời kỳ này. Nhiều nhà nghiên cứu trong giai đoạn này thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm để chứng minh khả năng tác động trực tiếp của truyền thông đến công chúng. Hiệu ứng của truyền thông trong giai đoạn này được xem như “mũi kim tiêm” hoặc “viên đạn th n kỳ” nghĩa là có sức mạnh vạn năng trong việc tác động đến nhận thức và hành vi của khán thính giả.
Giai đoạn thứ hai, người ta đưa ra những đánh giá bớt bi quan hơn về truyền thông đại chúng. Ở giai đoạn này, truyền thông đại chúng tác động gián tiếp thông qua nhiều bước trung gian. Trong đó bước trung gian đóng vai tr là máy lọc hay những người hướng dẫn dư luận. Do ảnh hưởng của những vấn đề chính trị (trong đó có cuộc chiến tranh lạnh), các nghiên cứu truyền thông có xu hướng phục vụ cho nhu c u của các nhà lãnh đạo nhằm đề cao hệ tư tưởng chủ đạo của xã hội.
Về mặt kỹ thuật nghiên cứu điểm nổi bật trong giai đoạn này là việc tiến hành nhiều nghiên cứu thực nghiệm, tinh lọc lại các kỹ thuật điều tra dư luận bằng bảng hỏi. Đây cũng là giai đoạn phát triển các lý thuyết như Thuyết về Nhóm Tham khảo và Quá trình Truyền thông Hai bước (Two-Step Flow), Thuyết Khuếch tán (Diffusion of Innovation), Thuyết Thiết lập Chương trình Nghị sự (Agenda Setting). Cũng trong giai đoạn này, các nghiên cứu truyền thông dựa trên phương pháp định lượng trở nên phổ biến. Ở giai đoạn thứ ba, những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, các nghiên cứu truyền thông thuộc trào lưu thứ hai xuất hiện.
Lúc này, chính trị và dư luận xã hội không còn là mối ưu tiên hàng đ u. Những người làm truyền thông quan tâm hơn đến các ứng dụng của truyền thông trong việc đào tạo nhân lực, cung cấp kiến thức, 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xây dựng hình ảnh thông qua đó đạt được các mục tiêu về phát triển kinh tế. Các nghiên cứu về hiệu quả truyền thông xác định vai trò của Người Dẫn đường Dư luận (opinion leader) và Thuyết Truyền thông Hai bước (Two - Step) được vận dụng trong truyền thông để tác động đến công chúng. Một xu hướng khác xuất hiện trong nghiên cứu truyền thông giai đoạn này là phân tích mối quan hệ giữa các phương tiện truyền thông đại chúng với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Mối lưu tâm ở đây không tập trung vào các phương tiện truyền thông đại chúng mà tập trung vào mạng lưới truyền thông có t nh tương tác.