CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI CÓ KHÓ KHĂN TRONG NHẬN THỨC, LÀM CHỦ HÀNH VI 1. Cơ sở lý luận về bảo vệ quyền của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi Mọi cá nhân kể từ khi sinh ra đều được gia đình, xã hội và pháp luật bảo vệ. Ở góc độ lý luận, khi xây dựng BLDS, các nhà làm luật đã đặt ra các nguyên tắc cơ bản để thể hiện điều đó, càng nhấn mạnh các cá nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản. Tuy nhiên, đặc điểm sinh học, thể chất, thể lực, trí lực của mỗi cá nhân có sự khác biệt cơ bản một cách tự nhiên, có thể phát triển hơn mức bình thường, hoặc khuyết tật, rối loạn tâm thần, thể chất, suy giảm chức năng trí tuệ, họ là những người dễ bị tổn thương nên các điều kiện về thể chất, tinh thần của họ cũng khác nhau… Từ đó, các nhà làm luật vận dụng và xây dựng nên các chủ thể có năng lực hành vi dân sự tương thích với năng lực của họ.
Đó chính là cơ sở lý luận được chứng minh từ thực tiễn để xây dựng nên quy định về năng lực hành vi dân sự, cũng là cơ sở lý luận mà BLDS năm 2015 đã bổ sung thêm một cấp độ là khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Khái niệm người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi 1. Khái niệm năng lực hành vi dân sự Trong quá trình hình thành và phát triển xã hội, có thể nói chủ thể là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng hàng đầu. Theo từ điển tiếng Việt chủ thể được hiểu là “con người với tư cách là một sinh vật có ý thức và ý chí, trong quan hệ đối lập với thế giới khách quan”1, bên cạnh đó chủ thể còn là yếu tố góp phần hình thành nên các quan hệ pháp luật.
Trong khoa học pháp lý, chủ thể thường được tiếp cận và mô tả là các bên tham gia vào quan hệ pháp luật bao gồm cá nhân hoặc tổ chức mà những chủ thể này thường gắn liền với quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể. Để đảm bảo cho quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ này được diễn ra một cách thiện chí và phù hợp với pháp luật đòi hỏi mỗi bên tham gia cần đáp ứng các điều kiện cần thiết về năng lực chủ thể mà pháp luật quy định. BLDS năm 2015 chưa có khái niệm cụ thể như thế nào là năng lực chủ thể, nhưng có thể hiểu đây là những khả năng về mặt pháp lý hoặc hành vi mà các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật, bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành 1 Hoàng Phê (1996), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr. Trên thực tế không phải cá nhân nào cũng đều có thể tham gia vào các quan hệ dân sự, trong một số trường hợp họ chỉ trở thành chủ thể của giao dịch đó khi được pháp luật trao quyền cho họ3.
Bên cạnh điều kiện khách quan đó là năng lực pháp luật khi mà Nhà nước trao cho mỗi cá nhân các quyền và nghĩa vụ dân sự ngang nhau. Do đó, để tự mình tham gia vào các giao dịch dân sự đòi hỏi mỗi bên tham gia cần có đủ khả năng về năng lực và tự chịu trách nhiệm thông qua những hành vi mang tính chủ quan của mình. Khái niệm cơ bản về cá nhân được hiểu là một cơ thể sống với những thuộc tính, năng lực riêng biệt có thể nhận diện và phân biệt với cá nhân khác. Tham gia vào một quan hệ pháp luật dân sự, yếu tố đầu tiên cần phải cân nhắc và xem xét đó là năng lực chủ thể của cá nhân đó.4 Hầu hết BLDS các nước không đưa ra khái niệm năng lực hành vi 5.
Trong khi đó pháp luật Việt Nam trong BLDS năm 2005 và cho đến nay BLDS năm 2015 đã được ghi nhận tại Điều 19 cụ thể rằng: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự”. “Hành vi ở đây có thể hiểu là những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể”6. Hành vi là sự kết hợp giữa hai yếu tố ý chí và lý trí chủ quan của con người nên không phải lúc nào hành động của con người được thể hiện ra bên ngoài cũng được xem là hành vi. Theo đó, ý chí là hình thức tâm lý của con người mong muốn thực hiện hành vi để đạt được mục đích nhưng nghiên về mặt cảm giác chủ quan của bản thân.
Còn lý trí như một khái niệm trừu tượng (abstract noun) là khả năng giải thích hay đánh giá các sự kiện, hành vi của con người.7 Chỉ khi nào cá nhân hội tụ đủ cả hai yếu tố này thì mới có khả năng tự mình kiểm soát, thực hiện các hành vi cũng như mới có đủ khả năng để chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình gây ra. Qua đó, chúng ta có thể hiểu rằng việc một cá nhân khi tham gia vào các quan hệ dân sự phải bằng chính năng lực hành vi của mình để xác lập và thực hiện nó. Điều 2 Cao Thị Hà (2017), Những điểm mới về NLHVDS của cá nhân theo Bộ luật dân sự năm 2015, Trường chính trị Lê Duẩn, Quảng Trị, https://truongleduan.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc/Nghien-cuu-trao- doi/nhung-diem-moi-ve-nang-luc-hanh-vi-dan-su-cua-ca-nhan-theo-bo-luat-dan-su-nam-2015-194.html , xem ngày 12/3/2023. 3 Tưởng Duy Lượng (2018), “Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự trong Bộ luật dân sự năm 2015”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 22 (374)/Kỳ 2.
4 Công ty Luật ACC, Năng lực chủ thể là gì? Những điều cần biết, truy cập tại: accgroup.vn/nang-luc-chu-the- la-gi/, ngày truy cập: 05/07/2023. 5 Đỗ Thị Hậu (2014), NLHVDS của cá nhân theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 6 Thanh Yến (2018), Từ điển Tiếng Việt, NXB Dân trí, tr. 7 Hoàng Phê (1996), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr.
8 luật nhấn mạnh yếu tố “bằng hành vi của mình” là điểm cốt lõi để xác định được một người có hay không có năng lực hành vi khi tham gia vào các giao dịch dân sự. Điều này cũng thể hiện việc một người muốn điều khiển được hành vi của mình cần phải có sự nhận thức đối với sự việc. Ví dụ như việc một người đi mua điện thoại di động, đòi hỏi người này cần có đủ nhận thức về nhu cầu và điều kiện của bản thân. Chính suy nghĩ trong nhận thức này là yếu tố thúc giục họ phải đến cửa hàng để mua, họ có thể trao đổi với người bán hàng, đọc các thông tin điều khoản giá cả, phương thức bảo hành và đồng ý ký tên xác lập giao dịch.
Mọi hoạt động trong quá trình này đều liên quan tới nhận thức của con người đối với thế giới quan, chính từ những nhận thức trong suy nghĩ sẽ dẫn đến cách mà con người điều khiển từng hành vi của mình trong các mối quan hệ xã hội hằng ngày. “Thuật ngữ này cũng cho thấy sự độc lập ý chí và năng lực chịu trách nhiệm là những tiêu chí chủ yếu của năng lực hành vi của cá nhân, thể hiện nguyên tắc độc lập ý chí giữa các chủ thể”8. Để xác định năng lực hành vi của cá nhân pháp luật thường dựa vào độ tuổi và vào khả năng nhận thức của cá nhân. Chỉ khi nào con người đạt tới một độ tuổi nhất định thì lúc đó mới có khả năng để hiểu rõ ý nghĩa và kết quả của hành vi mình gây ra.
Và rõ ràng một người có nhận thức cao hơn thì sẽ có năng lực hành vi dân sự cao hơn. Nhưng khác với năng lực pháp luật dân sự đó là có từ khi sinh ra, thì năng lực hành vi chỉ có khi một người đạt được một độ tuổi nhất định và có khả năng thực hiện hành vi đó. Từ những phân tích trên có thể thấy rằng nếu như điều kiện cần là năng lực pháp luật, thì điều kiện đủ để trở thành chủ thể trực tiếp tham gia vào các quan hệ pháp luật đó lại là năng lực hành vi dân sự. Như vậy, có thể thấy rằng ngoài việc pháp luật trao cho mỗi cá nhân được hưởng quyền thì bên cạnh đó cũng đặt ra một tiêu chuẩn để xem liệu cá nhân đó có đủ khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình đối với quan hệ pháp luật đó hay không.
Từ đó, có thể rút ra khái niệm về năng lực hành vi dân sự rằng: “Năng lực hành vi dân sự là khả năng bằng hành vi của mình để xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự khi đạt đến độ tuổi nhất định, trí tuệ bình thường và tự chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình”. Khái niệm người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi Như tác giả đã phân tích ở trên thì hành vi dân sự của mỗi cá nhân sẽ được hình thành khi đạt tới một độ tuổi nhất định và phát triển một cách bình thường về 8 Nguyễn Ngọc Điện (2020), Giáo trình Luật Dân sự - tập 1, Khoa Luật trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr.
9 mặt thể chất, khả năng nhận thức. Con người từ khi sinh ra đến xuyên suốt quá trình trưởng thành sẽ có những giai đoạn hình thành và phát triển khác nhau, song song với sự gia tăng của độ tuổi qua các năm là những thay đổi về tâm sinh lý. Và những sự thay đổi trong quá trình này sẽ tương ứng với các cấp độ trong năng lực của mỗi chủ thể cũng khác nhau. Đối với năng lực hành vi dân sự của mỗi con người theo quy định của pháp luật thì người lúc mới sinh cho đến khi chưa đủ 06 tuổi thì không có năng lực hành vi dân sự; người từ đủ 06 tuổi đến dưới 18 tuổi thì có năng lực hành vi dân sự nhưng chưa đầy đủ; đối với những người từ đủ 18 tuổi trở lên thì đã có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
Với những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nhưng họ lại có một vấn đề nào đó làm ảnh hưởng tới khả năng nhận thức của bản thân, dẫn đến không làm chủ được hành vi của mình hoặc hạn chế khả năng hoặc có khó khăn trong việc làm chủ hành vi.