Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con khi vợ chồng ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014" được tác giả Nguyễn Thanh Thủy thực hiện năm 2023 tại Trường Đại học Luật Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Bùi Minh Hồng. Nghiên cứu thuộc chuyên ngành Luật Dân sự và Hôn nhân gia đình, tập trung giải quyết các khía cạnh pháp lý bảo đảm sự phát triển toàn diện của trẻ em khi quan hệ hôn nhân của cha mẹ chấm dứt.

Theo lập luận của tác giả, dưới tác động của nền kinh tế thị trường và sự chuyển đổi xã hội, số lượng các vụ việc ly hôn tại Việt Nam ngày càng gia tăng và luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số vụ việc dân sự do Tòa án nhân dân thụ lý, giải quyết. Đáng chú ý, tỷ lệ ly hôn tập trung lớn vào các cặp vợ chồng trẻ và phần lớn đều có con chưa thành niên. Về mặt xã hội và pháp lý, ly hôn không chỉ đơn thuần là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa hai cá nhân mà còn tác động trực tiếp đến gia đình, trong đó con cái là đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất về thể chất, tâm lý và điều kiện sinh hoạt. Mặc dù Việt Nam đã xây dựng hệ thống văn bản pháp luật tương đối hoàn chỉnh dựa trên các điều ước quốc tế, thực tiễn áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vẫn phát sinh nhiều bất cập, xung đột lợi ích và vướng mắc trong thi hành.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là làm rõ cơ sở lý luận và các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con khi vợ chồng ly hôn; phân tích thực tiễn xét xử, chỉ ra những điểm chưa phù hợp của hệ thống pháp luật liên quan; từ đó đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tế.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua bốn nội dung:

  1. Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con khi vợ chồng ly hôn; phân tích, khái quát các khái niệm cơ bản, đặc điểm và đánh giá hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh.
  2. Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành, chỉ ra những bất cập, vướng mắc và làm sáng tỏ nguyên nhân của những tồn tại dưới góc độ pháp lý.
  3. Xây dựng định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con khi vợ chồng ly hôn.
  4. Đưa ra giải pháp nâng cao ý thức pháp luật, tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền về bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ gia đình.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm các vấn đề lý luận về quyền và lợi ích hợp pháp của con khi cha mẹ ly hôn; các quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam điều chỉnh quan hệ này; và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân các cấp kể từ thời điểm Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong hệ thống pháp luật Việt Nam (trọng tâm là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản quy phạm liên quan), đồng thời gắn với thực tiễn xét xử và áp dụng pháp luật tại Việt Nam trong giai đoạn từ khi luật có hiệu lực đến năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được triển khai trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, cùng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng thế hệ tương lai.

Hệ thống khung pháp lý và văn bản điều chỉnh được sử dụng làm cơ sở đối chiếu trong khóa luận gồm có:

  • Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1989 (Việt Nam phê chuẩn ngày 20/02/1990).
  • Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (Điều 36 về bảo hộ hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 37 về bảo vệ, chăm sóc trẻ em).
  • Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Điều 2, 59, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 81, 82, 85, 107, 110, 118).
  • Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 21 về người chưa thành niên; Điều 136 về đại diện theo pháp luật của cá nhân).
  • Luật Trẻ em năm 2016 (Điều 4 về khái niệm bảo vệ trẻ em và các quyền cơ bản của trẻ em).
  • Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-BTP ngày 06/01/2016 của TANDTC và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
  • Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (vẫn được áp dụng theo tinh thần hướng dẫn nghiệp vụ).
  • Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn một số vấn đề về giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình.
  • Nghị định số 130/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em.
  • Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình.
  • Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 186 về Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng).

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để mổ xẻ các khái niệm khoa học pháp lý, bản chất quyền nhân thân, quyền tài sản của con và nghĩa vụ của cha mẹ hậu ly hôn.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu giữa các giai đoạn lập pháp (Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và 2014), giữa luật nội dung và các văn bản xử lý vi phạm hành chính, hình sự.
  • Phương pháp thống kê, đánh giá thực chứng: Phân tích các số liệu thực tế, nghiên cứu các bản án và quyết định giải quyết việc hôn nhân và gia đình đã có hiệu lực của Tòa án nhân dân.

Nguồn dữ liệu của đề tài được trích xuất từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các công trình nghiên cứu khoa học trước đó (luận văn thạc sĩ của Trần Thị Thanh Hải, Lương An Dung, Nguyễn Thị Thúy, Nguyễn Thị Thu Chuyên; luận án tiến sĩ của Trần Thị Thủy Liên; sách chuyên khảo của Trương Ngọc Liệu, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Hữu Phước) và các bản án thực tiễn (tiêu biểu như Bản án số 70/2021/HNGĐ-PT ngày 12/07/2022 của TAND thành phố Hà Nội).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con khi vợ chồng ly hôn

Chương này tập trung làm rõ các khái niệm và bản chất pháp lý của việc bảo vệ quyền lợi của con cái trong bối cảnh hôn nhân đổ vỡ:

  • Khái niệm cơ bản: Khóa luận làm rõ các khái niệm "quyền lợi", "nghĩa vụ", "ly hôn" (sự kiện pháp lý chấm dứt quan hệ vợ chồng do Tòa án công nhận hoặc quyết định) và "quyền và lợi ích hợp pháp của con". Theo đó, con sinh ra có đầy đủ các quyền con người và quyền công dân mà pháp luật công nhận, không bị phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ. Đối tượng được bảo vệ trọng tâm bao gồm con chưa thành niên (dưới 18 tuổi theo Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015), con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự, hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
  • Đặc điểm và tác động của ly hôn đến con cái: Tác giả chỉ ra rằng trẻ em là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất ("lá non trên cành"). Sự ly tán gia đình gây ra những tổn hại sâu sắc: đau khổ về cảm xúc, cảm giác bị bỏ rơi, thay đổi hành vi (hung hăng hoặc nhút nhát, thu mình), suy giảm kết quả học tập, suy giảm lòng tự trọng và gia tăng nguy cơ bị bạo hành, xâm hại so với trẻ em sống cùng cả cha và mẹ.
  • Các nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con:
    1. Bảo đảm con được hưởng đầy đủ quyền lợi như trong thời kỳ hôn nhân của cha mẹ.
    2. Nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa các con (không phân biệt giới tính, con nuôi hay con đẻ, con chung hay con riêng, con trong giá thú hay ngoài giá thú, con sinh tự nhiên hay sinh ra nhờ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản).
    3. Bảo đảm lợi ích tốt nhất của con trong mọi phán quyết liên quan.
    4. Tôn trọng, lắng nghe và xem xét nguyện vọng của con (quy định bắt buộc lấy ý kiến đối với con từ đủ 7 tuổi trở lên trong quá trình tố tụng).
    5. Lồng ghép mục tiêu, chỉ tiêu về trẻ em vào việc xây dựng chính sách, pháp luật.
  • Nội dung bảo vệ: Gồm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con (quan hệ tài sản gắn liền nhân thân); và cơ chế bảo vệ khi quyền của con bị xâm phạm thông qua các quyền: yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền can thiệp và yêu cầu bồi thường thiệt hại (cả vật chất lẫn tinh thần).

Chương 2: Quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con khi vợ chồng ly hôn

Chương 2 rà soát, đối chiếu hệ thống quy định hiện hành điều chỉnh quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn:

  • Bảo vệ quyền nhân thân và tài sản của con:
    • Quyền nhân thân: Ghi nhận quyền được sống an toàn, được học tập, chăm sóc sức khỏe theo Điều 37 Hiến pháp 2013 và Điều 4 Luật Trẻ em 2016.
    • Quyền tài sản: Căn cứ khoản 5 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và khoản 6 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-BTP, khi giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng, Tòa án phải xem xét để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Đồng thời, quyền có tài sản riêng của con được bảo hộ theo Điều 75; cha mẹ quản lý và định đoạt tài sản riêng vì lợi ích của con theo Điều 76 và Điều 77.
  • Xác định người trực tiếp nuôi con: Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:
    • Tôn trọng sự thỏa thuận của cha mẹ (lập biên bản theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự).
    • Nếu không thỏa thuận được, Tòa án quyết định giao con cho một bên căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt (chỗ ở, thu nhập, thời gian chăm sóc, điều kiện học hành, phát triển thể chất và tinh thần).
    • Bắt buộc xem xét nguyện vọng của con nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên.
    • Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện hoặc hai bên có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. Quy định này cũng góp phần xóa bỏ tập quán lạc hậu phụ hệ ép buộc con phải theo cha.
  • Quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ sau ly hôn:
    • Đối với người trực tiếp nuôi con: Thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục (Điều 71, 72); làm đại diện theo pháp luật cho con (Điều 73 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 136 Bộ luật Dân sự 2015); bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự gây ra (Điều 74); có nghĩa vụ tạo điều kiện thuận lợi và không được cản trở người không trực tiếp nuôi con thăm nom.
    • Đối với người không trực tiếp nuôi con: Có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở (khoản 3 Điều 82); không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu; có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
  • Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con:
    • Căn cứ Điều 82, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, cha/mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
    • Cấp dưỡng là nghĩa vụ tài sản gắn liền nhân thân, không được chuyển giao cho người khác và không được dùng nghĩa vụ khác để thay thế hay bù trừ. Kể cả trường hợp cha mẹ bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên theo Điều 85, nghĩa vụ cấp dưỡng vẫn không chấm dứt.
    • Mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận dựa trên thu nhập, khả năng thực tế của người cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của con; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định. Tác giả trích dẫn đề xuất tại Điều 6 Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC: mức cấp dưỡng ít nhất bằng 2/3 mức lương cơ sở và không thấp hơn 30% mức thu nhập bình quân của người có nghĩa vụ cấp dưỡng trong 06 tháng liền kề.
    • Phân tích án lệ thực tế: Bản án số 70/2021/HNGĐ-PT ngày 12/07/2022 của TAND thành phố Hà Nội về việc chấp nhận thay đổi mức cấp dưỡng của anh T.H từ 4.000.000 đồng/tháng xuống 3.000.000 đồng/tháng do điều kiện kinh tế suy giảm (thu nhập thực tế còn 6.992.000 đồng/tháng và phải chăm sóc bố đẻ bị đột quỵ).
    • Về việc người trực tiếp nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng: Vận dụng điểm 11 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP, Tòa án giải thích cấp dưỡng là quyền của con; nếu người nuôi con tự nguyện không yêu cầu và có đủ khả năng kinh tế thì Tòa án không buộc bên kia phải cấp dưỡng.
  • Chế tài xử lý hành vi xâm phạm quyền lợi của con:
    • Nghị định số 130/2021/NĐ-CP: Phạt tiền đối với các hành vi bỏ mặc, không nuôi dưỡng; bạo lực, xúc phạm nhân phẩm; không bảo đảm chăm sóc y tế, dinh dưỡng; vi phạm quyền học tập (hủy hoại sách vở, cản trở việc học). Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em là 50.000.000 đồng đối với cá nhân.
    • Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa cha, mẹ và con (Điều 56); phạt tiền từ 5.000.000 đồng đối với hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 57). Mức phạt tối đa trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình là 30.000.000 đồng đối với cá nhân và 60.000.000 đồng đối với tổ chức.
    • Bộ luật Hình sự năm 2015: Điều 186 quy định Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (có khả năng thực tế nhưng trốn tránh làm người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm) bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con khi vợ chồng ly hôn và đề xuất giải pháp hoàn thiện

Dựa trên kết cấu mục lục và mục tiêu đề tài, Chương 3 phản ánh bức tranh thực tiễn áp dụng và đưa ra hệ thống kiến nghị:

  • Những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn:
    • Vấn đề giao quyền nuôi con: Tiêu chí xác định "quyền lợi về mọi mặt của con" còn mang tính định tính, dẫn đến sự thiếu thống nhất trong phán quyết giữa các Tòa án; việc lấy ý kiến trẻ em từ đủ 7 tuổi đôi khi mang tính hình thức hoặc bị tác động tâm lý từ phía cha, mẹ.
    • Vướng mắc về cấp dưỡng: Khó khăn trong việc xác minh chính xác thu nhập thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng để định mức; pháp luật hiện hành thiếu quy định về mức cấp dưỡng tối thiểu cụ thể, dẫn đến việc ấn định mức cấp dưỡng không đủ đáp ứng chi phí sinh hoạt tối thiểu. Tình trạng trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng diễn ra phổ biến nhưng chế tài hành chính và hình sự khó kích hoạt.
    • Vướng mắc về thay đổi người trực tiếp nuôi con: Các điều kiện chứng minh người đang nuôi con "không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con" (theo khoản 2 Điều 84) gặp nhiều trở ngại về mặt chứng cứ trên thực tế.
    • Vướng mắc trong xử lý hành vi cản trở quyền thăm nom con: Việc thi hành án đối với phán quyết về quyền thăm nom gặp nhiều trở ngại do sự bất hợp tác của người trực tiếp nuôi con.
  • Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật:
    • Cụ thể hóa mức cấp dưỡng tối thiểu nuôi con trong văn bản quy phạm pháp luật (hoàn thiện và ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC với công thức định lượng gắn với mức lương cơ sở hoặc tỷ lệ phần trăm thu nhập bình quân).
    • Hoàn thiện cơ chế giám sát và cưỡng chế thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng (cho phép áp dụng biện pháp khấu trừ tự động từ tài khoản ngân hàng hoặc tiền lương của người có nghĩa vụ).
    • Bổ sung quy định chi tiết về các tiêu chí đánh giá năng lực nuôi dưỡng khi giải quyết tranh chấp quyền nuôi con và thủ tục thay đổi người nuôi con sau ly hôn.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành:
    • Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình, trách nhiệm bảo vệ trẻ em hậu ly hôn.
    • Tăng cường phối hợp liên ngành giữa cơ quan Tòa án, Thi hành án dân sự, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, chính quyền địa phương và nhà trường trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của trẻ em.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và phân tích toàn diện hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành và số liệu thực chứng liên quan đến chế định bảo vệ con khi cha mẹ ly hôn.

Bảng tổng hợp dưới đây khái quát các chế tài pháp lý hiện hành được tác giả trích xuất để xử lý các hành vi xâm phạm quyền và lợi ích của con:

Loại vi phạm Căn cứ pháp lý Hình thức và mức chế tài áp dụng
Không chăm sóc, nuôi dưỡng; bỏ mặc trẻ em; bạo lực, xúc phạm nhân phẩm con Nghị định số 130/2021/NĐ-CP (Điều 21, 22, 26) Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền; mức phạt từ 500.000 đồng đến các khung phạt cao; mức phạt tối đa trong lĩnh vực bảo trợ/trẻ em là 50.000.000 đồng đối với cá nhân.
Ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa cha, mẹ và con Nghị định số 144/2021/NĐ-CP (Điều 56) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom (trừ trường hợp bị hạn chế theo quyết định Tòa án).
Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau ly hôn Nghị định số 144/2021/NĐ-CP (Điều 57) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với cá nhân có hành vi từ chối, trốn tránh cấp dưỡng.
Trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả nguy hiểm tính mạng/sức khỏe hoặc tái phạm Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 186) Phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Những đóng góp mới của đề tài so với các công trình nghiên cứu trước đó:

  • Khóa luận đã cập nhật kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành trong giai đoạn 2021-2023, bao gồm Nghị định số 130/2021/NĐ-CP, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP và Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn tranh chấp hôn nhân gia đình.
  • Nghiên cứu tiếp cận vấn đề một cách đa chiều, kết hợp giữa quyền nhân thân, quyền tài sản và cơ chế cưỡng chế thực thi bằng chế tài hành chính và hình sự, thay vì chỉ tiếp cận thuần túy từ góc độ thủ tục giải quyết ly hôn tại Tòa án.
  • Phân tích án lệ thực tế cụ thể (Bản án số 70/2021/HNGĐ-PT) để chứng minh tính linh hoạt của quy định pháp luật về việc thay đổi mức cấp dưỡng khi điều kiện kinh tế của người có nghĩa vụ thay đổi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ phạm vi tiếp cận nguồn tư liệu và thời gian nghiên cứu:

  • Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu dựa trên các quy định pháp luật thực định của Việt Nam và các tài liệu án văn, vụ việc tại một số địa bàn Tòa án nhân dân (chủ yếu tại khu vực Hà Nội); chưa có điều kiện khảo sát số liệu thống kê tư pháp quy mô lớn trên toàn quốc về tỷ lệ thi hành án thành công đối với nghĩa vụ cấp dưỡng và chuyển giao con chung. Khóa luận cũng chưa đi sâu so sánh đối chiếu kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia trên thế giới về các mô hình cơ quan chuyên trách bảo trợ cấp dưỡng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về cơ chế thu hộ và ứng trước tiền cấp dưỡng nuôi con của Nhà nước khi một bên cha/mẹ trốn tránh; khảo sát định lượng toàn diện thực trạng thi hành án dân sự về quyền nuôi con và cấp dưỡng tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; đánh giá tác động thực tế của Nghị quyết mới do Hội đồng Thẩm phán TANDTC ban hành khi được thông qua chính thức.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị thực tiễn và tính ứng dụng rõ rệt cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Luật: Tài liệu cung cấp hệ thống cơ sở lý luận mạch lạc, sơ đồ phân định quyền và nghĩa vụ của cha mẹ hậu ly hôn, cùng danh mục các văn bản pháp luật điều chỉnh cập nhật đến năm 2023.
  • Cán bộ tư pháp, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Luật sư: Phần phân tích các điều kiện giao con dưới 36 tháng tuổi, thủ tục lấy ý kiến con từ đủ 7 tuổi và các căn cứ xem xét thay đổi mức cấp dưỡng (thông qua phân tích Bản án số 70/2021/HNGĐ-PT) là nguồn dữ liệu tham khảo hữu ích cho công tác xét xử và tranh tụng.
  • Chấp hành viên và cơ quan Thi hành án dân sự: Phần rà soát các quy định về chế tài xử phạt hành chính theo Nghị định 130/2021/NĐ-CP, Nghị định 144/2021/NĐ-CP và xử lý hình sự theo Điều 186 Bộ luật Hình sự năm 2015 hỗ trợ cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, con dưới 36 tháng tuổi có đương nhiên được giao cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng khi cha mẹ ly hôn không? Không đương nhiên. Khoản 3 Điều 81 quy định về nguyên tắc con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nhưng loại trừ hai trường hợp: người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

2. Tòa án có bắt buộc phải lấy ý kiến và xem xét nguyện vọng của con khi giải quyết tranh chấp quyền nuôi con hay không? Có. Theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì Tòa án bắt buộc phải xem xét nguyện vọng của con trong quá trình tố tụng để đưa ra quyết định giao con cho ai nuôi dưỡng nhằm bảo đảm tốt nhất lợi ích của trẻ.

3. Người không trực tiếp nuôi con có thể chuyển giao nghĩa vụ cấp dưỡng cho người khác hoặc từ chối thực hiện nghĩa vụ này không? Không. Căn cứ Điều 82, Điều 107 và Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, nghĩa vụ cấp dưỡng là quan hệ tài sản gắn liền với quyền nhân thân của bên có nghĩa vụ và bên được cấp dưỡng. Người có nghĩa vụ phải tự mình thực hiện, không thể chuyển giao cho người khác và không được dùng nghĩa vụ khác để bù trừ, thay thế.

4. Hành vi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con bị xử lý hình sự theo Điều 186 Bộ luật Hình sự năm 2015 trong những điều kiện nào? Người có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện nhưng từ chối hoặc trốn tránh sẽ bị xử lý hình sự nếu hành vi đó làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe; hoặc người vi phạm đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn tiếp tục vi phạm.

5. Nếu người trực tiếp nuôi con tự nguyện không yêu cầu bên kia cấp dưỡng thì Tòa án xử lý như thế nào? Theo tinh thần điểm 11 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP được khóa luận phân tích, Tòa án phải giải thích cho đương sự hiểu rằng yêu cầu cấp dưỡng là quyền lợi của con. Nếu người trực tiếp nuôi con khẳng định việc không yêu cầu là hoàn toàn tự nguyện và bản thân có đầy đủ khả năng, điều kiện nuôi con thì Tòa án không buộc bên kia phải cấp dưỡng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thanh Thủy đã hệ thống hóa một cách toàn diện các vấn đề lý luận và quy định thực định về bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con khi cha mẹ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nghiên cứu phân tích sâu sắc các mối quan hệ nhân thân và tài sản, xác lập căn cứ bảo đảm quyền nuôi dưỡng, nghĩa vụ cấp dưỡng và đối chiếu với các chế tài hành chính, hình sự hiện hành. Các phân tích thực tiễn và nhóm giải pháp hoàn thiện mức cấp dưỡng tối thiểu được đề xuất trong công trình mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thiết thực cho hoạt động lập pháp cũng như thực thi công lý bảo vệ trẻ em tại Việt Nam.