Chương 1 LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ 1. Khái niệm và đặc điểm của cổ đông, cổ đông thiểu số 1. Khái niệm và đặc điểm của cổ đông Khái niệm cổ đông nói chung và cổ đông thiểu số nói riêng luôn bắt đầu và hình thành, phát triển cùng với công ty cổ phần; hiểu rõ nguồn gốc lịch sử, bối cảnh hình thành và sự ra đời của pháp luật về công ty cổ phần của nước ta giúp làm rõ thêm phạm trù công ty cổ phần - cổ đông – cổ đông thiểu số, từ đó đi sâu vào nội hàm – ngoại diên của các khái niệm đó. Hình thức công ty cổ phần lần đầu tiên được luật hóa trong Luật Công ty năm 1990 được sửa đổi, bổ sung năm 1994, cũng là Luật về công ty cổ phần đầu tiên của nước ta kể từ năm 1945 cho đến thời điểm đó1.
Khái niệm về công ty cổ phần được quy định tiếp nối và gần như giữ nguyên nội dung tại các Luật Doanh nghiệp thời kỳ sau này2. Theo quy định của pháp luật hiện hành, công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; và cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định khác3. Như vậy, có thể rút ra khái niệm chung nhất về công ty cổ phần là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn do tổ chức và cá nhân, tối thiểu là 03 thành viên, sáng lập. Công ty cổ phần được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể 1 Điều 2 và Điều 30 Luật Công ty năm 1990 2 Điều 51 Luật Doanh nghiệp năm 1999, Điều 77 Luật Doanh nghiệp năm 2014, Điều 110 Luật Doanh nghiệp năm 2014, Điều 111 Luật Doanh nghiệp năm 2020 3 Khoản 1 Điều 111 Luật Doanh nghiệp năm 2020 8 sở hữu nó, có tư cách pháp nhân riêng.
Công ty cổ phần là một thể chế kinh doanh, một loại hình doanh nghiệp hình thành, tồn tại và phát triển bởi sự góp vốn của nhiều cổ đông. Trong công ty cổ phần, số vốn điều lệ của công ty được chia nhỏ thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần. Các cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu.
Chỉ có công ty cổ phần mới được phát hành cổ phiếu, còn công ty trách nhiệm hữu hạn thì không có điều này, đồng nghĩa chỉ có công ty cổ phần mới được giao dịch trên thị trường chứng khoán. Như vậy, cổ phiếu chính là một bằng chứng xác nhận quyền sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu. Công ty cổ phần là một trong loại hình công ty căn bản tồn tại trên thị trường và nhất là để niêm yết trên thị trường chứng khoán. Công ty cổ phần là loại hình công ty đối vốn điển hình, theo đó cổ đông được quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác mà không phải chịu hạn chế như các loại hình doanh nghiệp khác.
Ngoài ra với bản chất là mô hình có khả năng huy động vốn lớn, công ty cổ phần được đầu tư, thành lập và hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Đây là loại hình được được nhiều chủ thể lựa chọn khi làm ăn kinh doanh với quy mô lớn. Trong pháp luật thực định, định nghĩa cổ đông được quy định thống nhất bắt đầu từ Luật Doanh nghiệp năm 2005 cho đến Luật Doanh nghiệp hiện hành4, theo đó cổ đông là cá nhân, tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty cổ phần. Từ định nghĩa trên có thể rút ra khái niệm cổ đông là cá nhân hay tổ chức nắm giữ quyền sở hữu hợp pháp một phần hay toàn bộ phần vốn góp (cổ phần) của một công ty cổ phần.
Mỗi cổ đông sẽ có quyền và nghĩa vụ khác nhau tùy thuộc vào loại cổ phần và tỉ lệ cổ phần mà họ nắm giữ. Cổ đông có những đặc điểm cơ bản sau: i) Có thể là tổ chức, cá nhân; ii) Chủ thể đồng sở hữu công ty cổ phần chứ không phải là chủ nợ của công ty; iii) Chủ thể sở hữu cổ phần chứ không sở hữu tài sản của công ty cổ phần; iv) Quyền lợi và nghĩa vụ của cổ đông gắn liền với kết quả hoạt động của công ty cổ phần tương ứng 4 Khoản 11 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005, Khoản 2 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014, Khoản 3 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 9 với phần vốn góp; v) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; vi) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ một số trường hợp bị hạn chế theo luật định. Phân loại cổ đông Căn cứ tiêu chí lựa chọn khác nhau thì có nhiều cách phân loại cổ đông. Thứ nhất, căn cứ tư cách pháp lý của chủ thể thì có cổ đông tổ chức và cổ đông cá nhân5.
Thứ hai, căn cứ vai trò của cổ đông đối với việc thành lập công ty cổ phần thì bao gồm cổ đông sáng lập và cổ đông thường6. Thứ ba, căn cứ loại cổ phần mà cổ đông sở hữu, tương ứng với quyền và nghĩa vụ của loại cổ phần đó thì có 02 loại cổ đông: cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi: Cổ đông phổ thông: cổ phần phổ thông là loại cổ phần cơ bản, hình thành dựa trên vốn điều lệ. Vốn của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông.“Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông.
Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông. Cổ đông ưu đãi bao gồm : Cổ đông ưu đãi biểu quyết: Là cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông. Số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết do Điều lệ công ty quy định. Thời gian ưu đãi biểu quyết là 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, sau đó bắt buộc chuyển thành cổ phần phổ thông.
Cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ đông sáng lập hoặc tổ chức đại diện phần vốn góp của Chính phủ ủy 5 Khoản 3 Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020:” 6 Khoản 4 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020: “4. Cổ đông sáng lập là cổ đông sở hữu ít nhất một cổ phần phổ thông và ký tên trong danh sách cổ đông sáng lập công ty cổ phần. Ngoài ra, Điều 120 Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng quy định một số ràng buộc chặt chẽ hơn đối với cổ đông sáng lập so với cổ đông thường. 7 Khoản 1 Điều 114 Luật Doanh nghiệp năm 2020 10 quyền, do đó bị nhiều ràng buộc hơn về nghĩa vụ, trách nhiệm so với cổ đông phổ thông8.
Cổ đông ưu đãi hoàn lại, cổ đông ưu đãi cổ tức và cổ đông ưu đãi khác : Là những cổ đông được ưu tiên một quyền nào đó (thường là quyền hưởng một tỷ lệ cổ tức cố định trước khi lợi nhuận được phân phối cho các cổ đông khác, quyền nhận lại giá trị của cổ phần khi có yêu cầu…) bao gồm ưu đãi cổ tức, ưu đãi hoàn lại và ưu đãi khác9. Tùy thuộc vào loại cổ phần ưu đãi nắm giữ mà cổ đông có các quyền, nghĩa vụ tương ứng10. Thứ tư, căn cứ tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nắm giữ, có thể phân ra 02 loại cổ đông: Cổ đông lớn: trong Luật doanh nghiệp qua các thời kỳ chưa đưa ra khái niệm cổ đông lớn, chỉ có quy định trong 02 luật chuyên ngành là Luật chứng khoán11 và Luật các tổ chức tín dụng12. Rõ ràng đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Luật Chứng khoán chỉ là các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán và Luật các Tổ chức tín dụng, thậm chí còn tương đối hẹp hơn, chỉ áp dụng cho các tổ chức tín dụng cổ phần.
Thêm vào đó, Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi năm 2017 còn đưa vào thêm khái niệm sở hữu gián tiếp, người có liên quan13 để minh định, quản lý chặt hơn hình thức “sở hữu chéo” trong hệ thống ngân hàng của cổ đông lớn. Tóm lại, cách hiểu chung nhất về cổ đông lớn là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành cổ phần. Cổ đông nhỏ: nếu theo phương pháp loại suy với cổ đông lớn thì cổ đông nhỏ là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp dưới 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành cổ phần. 8 Điều 116 Luật Doanh nghiệp năm 2020 9 Khoản 2 Điều 114 Luật Doanh nghiệp năm 2020 10 Điều 117, 118 Luật Doanh nghiệp năm 2020 11 Khoản 9 Điều 6 Luật Chứng khoán năm 2006, Khoản 18 Điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019 12 Khoản 6 Điều 20 Luật các Tổ chức tín dụng năm 1997 sửa đổi năm 2004, Khoản 26 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi năm 2017 13 Khoản 27 và Khoản 28 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi năm 2017 11 Thứ năm, căn cứ khả năng chi phối chính sách quản trị điều hành và bổ nhiệm, miễn nhiệm cấp quản lý của công ty cổ phần thông qua thực hiện quyền biểu quyết thì gồm có cổ đông đa số và cổ đông thiểu số.
Vấn đề cổ đông thiểu số và bảo vệ cổ đông thiểu số luôn là tâm điểm của nhiều tranh luận trong thời gian qua, đồng thời cũng là đối tượng nghiên cứu của đề tài. “Cổ đông thiểu số là người nắm giữ dưới 1% cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành. Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của cổ đông phổ thông 1.