Luận văn Thạc sĩ: Bảo vệ quyền lợi bên vay trong hợp đồng tín dụng tiêu dùng

Tổng hợp pháp luật bảo vệ quyền lợi của bên vay trong hợp đồng tín dụng tiêu dùng. Luận văn phân tích thực trạng, kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

82
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Hướng dẫn toàn diện về bảo vệ quyền lợi bên vay tín dụng

Trong bối cảnh kinh tế xã hội phát triển, nhu cầu tiêu dùng của người dân ngày càng tăng cao, kéo theo sự bùng nổ của hoạt động tín dụng tiêu dùng (TDTD). Các ngân hàng thương mại và công ty tài chính (CTTC) liên tục đưa ra các sản phẩm vay tín chấp nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắm, chi tiêu trước khi có khả năng thanh toán của người dân. Tuy nhiên, hoạt động này cũng bộc lộ nhiều rủi ro, đặc biệt là đối với người đi vay. Hợp đồng vay tiêu dùng thường được soạn sẵn dưới dạng hợp đồng theo mẫu, khiến bên vay rơi vào thế yếu, ít có cơ hội đàm phán và dễ bị chèn ép. Do đó, việc bảo vệ quyền lợi bên vay trong hợp đồng tín dụng tiêu dùng trở thành một yêu cầu cấp thiết. Pháp luật cần có những quy định cụ thể, rõ ràng để đảm bảo sự cân bằng, minh bạch thông tin tín dụng và bảo vệ lợi ích hợp pháp cho người tiêu dùng. Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Văn Trí (2019) đã chỉ ra rằng, bên vay thường là "những chủ thể yếu ớt, dễ dàng bị chèn ép và chịu nhiều bất lợi khi giao kết" với các tổ chức tín dụng. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải hoàn thiện khung pháp lý, từ việc quy định lãi suất cho vay tiêu dùng đến cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng, nhằm tạo ra một môi trường tín dụng lành mạnh, nơi quyền và nghĩa vụ của bên vay được tôn trọng và bảo vệ.

1.1. Khái niệm và vai trò của hợp đồng tín dụng tiêu dùng

Hợp đồng tín dụng tiêu dùng (HĐTDTD) về bản chất là một hợp đồng dân sự, được định nghĩa là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Theo đó, tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích tiêu dùng trong một thời hạn nhất định, với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Hoạt động này đóng vai trò quan trọng trong việc kích cầu tiêu dùng, thúc đẩy sản xuất và tăng trưởng kinh tế. Đối với người dân, đây là giải pháp tài chính giúp họ cải thiện chất lượng cuộc sống, đáp ứng các nhu cầu cấp bách về nhà ở, học tập, y tế. Tuy nhiên, một hợp đồng vay tiền hợp pháp phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật, đặc biệt là Luật các tổ chức tín dụng và Luật bảo vệ người tiêu dùng.

1.2. Bên vay Xác định chủ thể yếu thế cần được bảo vệ

Trong HĐTDTD, bên vay thường là các cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu tiêu dùng nhưng hạn chế về kiến thức tài chính và pháp lý. Họ thường ở vào thế bất lợi do sự "bất cân xứng thông tin" so với các tổ chức tín dụng. Các điều khoản hợp đồng tín dụng thường do bên cho vay soạn sẵn, phức tạp và chứa đựng nhiều thuật ngữ chuyên ngành. Người vay ít có cơ hội đàm phán, thay đổi các điều khoản này, dẫn đến nguy cơ chấp nhận những điều kiện bất lợi. Chính vì vị thế yếu thế này, pháp luật cần có cơ chế đặc thù để bảo vệ họ, đảm bảo rằng mọi giao dịch đều dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và trung thực.

II. Top 4 rủi ro pháp lý người vay tín dụng tiêu dùng gặp phải

Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi bên vay trong hợp đồng tín dụng tiêu dùng vẫn còn tồn tại nhiều bất cập. Người vay phải đối mặt với không ít rủi ro, từ những điều khoản mập mờ đến các phương thức thu hồi nợ thiếu chuẩn mực. Một trong những vấn đề nhức nhối nhất là sự thiếu minh bạch về lãi suất cho vay tiêu dùng và các loại phí liên quan. Nhiều công ty tài chính quảng cáo lãi suất hấp dẫn nhưng lại áp dụng cách tính lãi phức tạp, cộng thêm nhiều khoản phí ẩn khiến tổng số tiền phải trả cao hơn nhiều so với dự tính. Bên cạnh đó, các hợp đồng theo mẫu thường chứa đựng những điều khoản hợp đồng tín dụng bất lợi, chẳng hạn như quy định về phí phạt trả nợ trước hạn quá cao hoặc các điều khoản cho phép đơn vị cho vay đơn phương thay đổi lãi suất. Ngoài ra, hoạt động đòi nợ đúng pháp luật vẫn là một thách thức lớn. Nhiều trường hợp người vay và gia đình bị quấy rối, đe dọa, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần và cuộc sống. Cuối cùng, khi xảy ra tranh chấp, cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng còn phức tạp, khiến người vay gặp khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Những rủi ro này đòi hỏi một sự can thiệp mạnh mẽ hơn từ các cơ quan quản lý nhà nước.

2.1. Lãi suất và các loại phí phạt thiếu minh bạch gây nhầm lẫn

Vấn đề lãi suất là một trong những nguyên nhân chính gây ra tranh chấp. Mặc dù Bộ luật Dân sự 2015 đã có quy định về lãi suất trần theo quy định (không quá 20%/năm), nhiều tổ chức tín dụng vẫn "lách luật" bằng cách cộng thêm các khoản phí tư vấn, phí thẩm định, phí quản lý khoản vay... khiến lãi suất thực tế bị đẩy lên rất cao. Việc niêm yết lãi suất chưa rõ ràng, giải thích điều khoản hợp đồng mập mờ dẫn đến khách hàng không hiểu đúng nghĩa vụ trả nợ của mình, gây ra tình trạng khiếu kiện hoặc mất khả năng thanh toán. Sự thiếu minh bạch thông tin tín dụng này là một rào cản lớn đối với việc bảo vệ người tiêu dùng.

2.2. Các điều khoản hợp đồng tín dụng gây bất lợi cho bên vay

Do HĐTDTD chủ yếu là hợp đồng theo mẫu, bên vay thường không có quyền thương lượng. Nhiều hợp đồng cài cắm các điều khoản bất lợi như: quyền đơn phương thay đổi lãi suất của bên cho vay mà không cần sự đồng ý của bên vay; mức phí phạt trả nợ trước hạn cao bất hợp lý; hay các điều khoản miễn trừ trách nhiệm của tổ chức tín dụng. Những điều khoản này vi phạm nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa các bên và đi ngược lại tinh thần của Luật bảo vệ người tiêu dùng. Việc kiểm soát nội dung hợp đồng theo mẫu trước khi đưa ra thị trường là một giải pháp cần được xem xét.

2.3. Thực trạng hoạt động đòi nợ chưa tuân thủ quy định pháp luật

Hoạt động thu hồi nợ là một khâu nhạy cảm và dễ phát sinh vi phạm. Thực tế cho thấy, nhiều đơn vị cho vay hoặc các bên thứ ba được ủy quyền đã sử dụng các biện pháp đòi nợ tiêu cực như gọi điện quấy rối người thân, đồng nghiệp; đăng thông tin cá nhân của người vay lên mạng xã hội; thậm chí là đe dọa, gây áp lực tâm lý. Các hành vi này không chỉ vi phạm pháp luật về đòi nợ đúng pháp luật mà còn xâm phạm nghiêm trọng đến quyền riêng tư và danh dự của công dân. Cần có chế tài xử phạt nghiêm khắc hơn đối với các hành vi này để đảm bảo trật tự xã hội.

III. Cách minh bạch hóa thông tin để bảo vệ quyền lợi bên vay

Để bảo vệ quyền lợi bên vay trong hợp đồng tín dụng tiêu dùng, giải pháp cốt lõi là tăng cường sự minh bạch trong mọi giai đoạn của quá trình cho vay. Minh bạch thông tin tín dụng không chỉ là nghĩa vụ của bên cho vay mà còn là quyền cơ bản của người tiêu dùng. Pháp luật cần yêu cầu các tổ chức tín dụng phải cung cấp thông tin một cách đầy đủ, chính xác và dễ hiểu trước khi khách hàng ký kết hợp đồng. Các thông tin này phải bao gồm: tổng số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất cho vay tiêu dùng (ghi rõ lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế theo năm), cách tính lãi, tất cả các loại phí liên quan (phí tư vấn, phí bảo hiểm khoản vay, phí thẩm định), và đặc biệt là mức phí phạt trả nợ trước hạn. Theo Thông tư 43/2016/TT-NHNN, các công ty tài chính phải ban hành quy định nội bộ về hoạt động cho vay tiêu dùng, trong đó có quy định về phương pháp tính lãi. Việc chuẩn hóa hình thức hợp đồng, sử dụng ngôn ngữ đơn giản, rõ ràng và quy định cỡ chữ tối thiểu cũng là một biện pháp cần thiết để người vay có thể đọc và hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của bên vay. Các cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ các quy định về cung cấp thông tin của các công ty tài chính và ngân hàng.

3.1. Quy định chặt chẽ về hình thức và nội dung hợp đồng vay

Pháp luật cần quy định bắt buộc hợp đồng vay tiêu dùng phải được lập thành văn bản và giao cho bên vay một bản. Nội dung hợp đồng phải bao gồm đầy đủ các điều khoản chủ yếu theo quy định, trình bày rõ ràng, dễ hiểu. Đặc biệt, những điều khoản liên quan đến nghĩa vụ tài chính của bên vay như lãi suất, lãi phạt, các loại phí phải được in đậm hoặc làm nổi bật để thu hút sự chú ý. Cần có quy định cấm các điều khoản chung chung, không rõ ràng hoặc các điều khoản cho phép bên cho vay diễn giải theo hướng có lợi cho mình. Việc đăng ký hợp đồng theo mẫu với cơ quan quản lý nhà nước cũng là một cơ chế kiểm soát hiệu quả.

3.2. Yêu cầu công khai cách tính lãi suất và các khoản phí

Sự minh bạch về chi phí là yếu tố then chốt. Các tổ chức tín dụng phải có nghĩa vụ công khai và giải thích rõ ràng cho khách hàng về cách tính lãi suất (tính trên dư nợ ban đầu hay dư nợ giảm dần), các loại phí có thể phát sinh trong suốt thời hạn vay. Bảng lịch trả nợ chi tiết, phân tách rõ số tiền gốc và lãi phải trả hàng kỳ, phải được cung cấp cho người vay ngay khi ký hợp đồng. Điều này giúp người vay có thể lập kế hoạch tài chính và tránh được những cú sốc khi nhận thông báo trả nợ. Mọi thay đổi về lãi suất hoặc phí (nếu được phép) phải được thông báo trước cho khách hàng trong một khoảng thời gian hợp lý.

IV. Bí quyết sử dụng Luật để bảo vệ quyền lợi khi vay tiêu dùng

Việc bảo vệ quyền lợi bên vay trong hợp đồng tín dụng tiêu dùng không chỉ phụ thuộc vào sự minh bạch của bên cho vay mà còn cần một khung pháp lý vững chắc và cơ chế thực thi hiệu quả. Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 là công cụ pháp lý quan trọng, trao cho người vay nhiều quyền lợi, bao gồm quyền được cung cấp thông tin, quyền được an toàn, quyền được lựa chọn, và quyền được khiếu nại, bồi thường. Bên cạnh đó, các quy định trong Bộ luật Dân sự, Luật các tổ chức tín dụng và các thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước cũng góp phần tạo nên một hành lang pháp lý để điều chỉnh hoạt động này. Để bảo vệ mình, người vay cần chủ động tìm hiểu và vận dụng các quy định này. Khi phát hiện các hành vi vi phạm, người vay có quyền khiếu nại trực tiếp đến tổ chức tín dụng, hoặc gửi đơn đến các cơ quan quản lý như Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, Ngân hàng Nhà nước. Trong trường hợp nghiêm trọng, việc tìm đến tư vấn pháp luật tín dụng hoặc khởi kiện ra tòa án là biện pháp cuối cùng để bảo vệ lợi ích hợp pháp. Nâng cao nhận thức pháp luật cho người dân chính là chìa khóa để họ tự tin hơn trong các giao dịch tài chính.

4.1. Nâng cao quyền và nghĩa vụ của bên vay theo quy định pháp luật

Pháp luật đã quy định rõ quyền và nghĩa vụ của bên vay. Bên vay có quyền từ chối các yêu cầu không đúng thỏa thuận, có quyền khiếu nại khi hợp đồng bị vi phạm. Đồng thời, họ cũng có nghĩa vụ cung cấp thông tin trung thực, sử dụng vốn vay đúng mục đích và trả nợ gốc, lãi đúng hạn. Việc hiểu rõ các quyền này giúp người vay có cơ sở để đối thoại và yêu cầu tổ chức tín dụng thực hiện đúng cam kết. Các chương trình giáo dục tài chính cộng đồng cần được đẩy mạnh để người dân nắm vững các quy định pháp luật cơ bản liên quan đến vay tín chấp và tín dụng tiêu dùng.

4.2. Cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng hiệu quả

Một cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng hiệu quả, nhanh chóng và ít tốn kém là rất cần thiết. Bên cạnh con đường tòa án, cần khuyến khích các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế như hòa giải, trọng tài. Các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng có thể đóng vai trò trung gian, hỗ trợ người vay trong quá trình hòa giải với các tổ chức tín dụng. Ngân hàng Nhà nước cũng cần thiết lập một đường dây nóng hoặc bộ phận chuyên trách để tiếp nhận và xử lý các khiếu nại của người dân liên quan đến hoạt động cho vay tiêu dùng, đảm bảo việc xử lý vi phạm được thực hiện kịp thời và nghiêm minh.

04/10/2025
Bảo vệ quyền lợi của bên vay trong hợp đồng tín dụng tiêu dùng luận văn thạc sỹ luật

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TIÊU DÙNG VÀ BÊN VAY TÍN DỤNG TIÊU DÙNG 1. Khái quát chung về hợp đồng tín dụng tiêu dùng Theo quy luật tự nhiên, khi kinh tế phát triển, tiêu dùng tăng thì hoạt động đi vay để phục vụ tiêu dùng của người dân cũng tăng phù hợp với xu thế chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng dựa vào chi tiêu chính phủ và đầu tư sang dựa vào tiêu dùng tư nhân. Khi xã hội phát triển thì hoạt động cho vay đã bắt đầu xuất hiện, từ đó quan hệ lưu thông hàng, hóa tiền tệ cũng đã hình thành nhằm cân bằng nhu trong cầu cuộc sống của con người. Cho đến ngày nay, cho vay là một hoạt động chủ yếu của các tổ chức tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ trong sản xuất, kinh doanh và ổn định đời sống.

Ở Việt Nam, hoạt động cho vay tiêu dùng có rất nhiều tiềm năng do kinh tế tăng trưởng tốt, dân số trẻ. Hệ thống ngân hàng ngày càng phát triển, đa dạng hóa hoạt động theo hướng hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế, theo đó, cho vay tiêu dùng trở thành một hoạt động cơ bản, trọng yếu để đáp ứng nhu cầu của người dân, đóng góp vào sự phát triển của đất nước. Đánh giá một cách khách quan, dịch vụ tín dụng tiêu dùng của các CTTC đã góp phần nâng cao khả năng tiếp cận tài chính của người dân, đáp ứng nhu cầu chính đáng của những người không đủ điều kiện tiếp cận vốn vay ngân hàng mà nếu không có loại hình tín dụng này sẽ phải tìm đến tín dụng đen. So với lãi suất cho vay cầm đồ trên 110%/năm, thì lãi suất cho vay tiêu dùng của các CTTC thấp hơn khá nhiều.

Mặc dù vậy, mức lãi suất phổ biến của các CTTC đang áp dụng hiện nay vẫn là quá cao so với thu nhập và khả năng trả nợ của người vay. Nhiều CTTC tính toán, niêm yết lãi suất chưa minh bạch, giải thích điều khoản hợp đồng chưa rõ ràng dẫn đến khách hàng không hiểu đúng nghĩa vụ trả lãi, gây kiện cáo hoặc không trả được nợ. Bên cạnh đó, trong khi các NHTM đã và đang hướng ứng tốt lời hiệu triệu của Thống đốc về việc giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ sản xuất kinh doanh thì các CTTC vẫn tiếp tục áp dụng mức lãi suất cho vay tiêu dùng ở mức khá cao, điều này tạo dư luận không tốt đối với 9 hoạt động ngân hàng. Trong thời gian qua, NHNN đã chỉ đạo, chấn chỉnh các CTTC tiêu dùng thực hiện việc tính toán lãi suất, công khai các mức lãi suất theo đúng quy định, tiết kiệm chi phí để giảm lãi suất cho vay phù hợp với chủ trương điều hành lãi suất của NHNN, xây dựng phương án, kế hoạch giảm lãi suất cho vay tiêu dùng.

Tuy nhiên, đến nay lộ trình giảm lãi suất của một số CTTC vẫn chưa phù hợp. Điều này đòi hỏi cần phải có cơ chế quản lý chặt chẽ hơn nữa đối với lãi suất cho vay tiêu dùng của các CTTC đảm bảo phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành, đặc thù hoạt động của CTTC tín dụng tiêu dùng và thông lệ quốc tế, góp phần vào sự phát triển lành mạnh của hoạt động cho vay tiêu dùng trong tương lai. Qua nghiên cứu, về cơ bản, hoạt động cho vay tiêu dùng chịu sự quản lý của chính quyền, các cơ quan chuyên trách về giám sát tài chính, thương mại hoặc bảo vệ người tiêu dùng, Ngân hàng Trung ương (NHTW) không tham gia quản lý lĩnh vực này. Qua khảo sát có thể thấy, lãi suất cho vay tiêu dùng ở các nước đều cao hơn nhiều so với lãi suất cho vay thông thường của các ngân hàng.

Tại các nước này, cũng có tình trạng lãi suất cho vay tiêu dùng tăng quá cao, gây bức xúc trong xã hội, do đó, việc tăng cường quản lý lĩnh vực này trở thành chủ đề tranh luận. Tuy nhiên, để đảm bảo sự phát triển lành mạnh, bền vững của thị trường trong dài hạn, cơ quan quản lý hạn chế tối đa việc can thiệp hành chính vào lãi suất, theo đó lãi suất cho vay tiêu dùng về cơ bản là theo cơ chế thỏa thuận, nếu có kiểm soát thì chỉ quy định chọn lọc đối với các phân khúc ít có ảnh hưởng. Giải pháp chính thường là tăng cường các quy định về minh bạch hóa thông tin, nâng cao trách nhiệm của cả CTTC và người đi vay, nâng cao điều kiện đăng ký kinh doanh. Khái niệm hợp đồng tín dụng tiêu dùng Khái niệm cho vay đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau.

Theo định nghĩa chung: hợp đồng tín dụng tiêu dùng là việc một người thỏa thuận để một người khác được quyền sử dụng tài sản của mình (vật cùng loại) trong một thời gian nhất định với điều kiện có hoàn trả, dựa trên cơ sở tín nhiệm của mình đối với người đó. Dưới góc độ pháp luật thì “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức 10 tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”2. Hiện nay với sự phát triển không ngừng của xã hội và đa dạng hóa nhiều hoạt động cho vay của các ngân hàng mỗi một tổ chức tín dụng đã tự xây dựng nên một quy chế cho vay từ đó có rất nhiều hình thức cho vay khác nhau. Đặc biệt, hoạt động tín dụng tiêu dùng hiện nay đang diễn ra sự cạnh tranh quyết liệt, sôi động giữa các ngân, các công ty tài chính.

Đây là hình thức cấp nhằm hỗ trợ vốn cho cá nhân, hộ gia đình nhằm mục đích tiêu dùng sinh hoạt cá nhân và gia đình cá nhân đó, phục vụ nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày; nâng cao mức sống trong khi thu nhập bình quân hàng ngày chưa có khả năng chi trả trong hiện tại như: nhu cầu mua sắm nhà ở, đồ dùng trong gia đình, xe cộ, chi phí học hành, giải trí. Khái niệm tiêu dùng theo từ điển tiếng Việt thông dụng có nghĩa là “dùng của cải để phục vụ các nhu cầu sinh hoạt, sản xuất. đẩy mạnh sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng; sản xuất hàng tiêu dùng; tiêu dùng cho sản xuất”3 Còn trong từ điển tiếng Việt phổ thông nghĩa là “việc sử dụng của cải vật chất vào mục đích sản xuất hoặc phục vụ đời sống 4”. Do vậy, mục đích vay mượn rất đa dạng, như mua nhà xây dựng hay sửa chữa nhà ở, mua xe, du học, du lịch, cưới hỏi,.

Hoạt động cho vay tiêu dùng ở các nước phát triển trên thế giới đã hình thành từ rất sớm và phát triển rất mạnh cho đến nay. Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển và biến đổi không ngừng của nền kinh tế thị trường với nhu cầu tiêu dùng trong sinh hoạt, hình thức cho vay tiêu dùng bắt đầu phát triển theo, trên thị trường nước ta trong những năm gần đây, hệ thống ngân hàng thương mại tiến hành cơ cấu lại, khái niệm tín dụng tiêu dùng càng ngày càng được mở rộng và có một số thay đổi. Ngoài việc cho vay để mua sắm phương tiện đi lại; mua, sửa chữa nhà ở; mua phương tiện 2 Khoản 1, điều 2 Thông tư số 39/2016, ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. 3Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân THành.

Từ điển tiếng Việt thông dụng -H. :giáo dục 1995, nhà xuất bản giáo dục, tr1131. 4Viện ngôn ngữ học (2010), Từ điển tiếng việt phổ thông, Nxb Tp.Hồ Chí Minh, tr. 11 sinh hoạt đắt tiền khác; cho vay tiêu dùng còn cho vay đối với gia đình có con em đi du học, khám chữa bệnh ở nước ngoài, người đi xuất khẩu lao động, .Đặc biệt là hoạt động cho vay vượt khỏi “khái niệm tín dụng tiêu dùng” mà bao trùm luôn lĩnh vực phi sản xuất đó là cho vay đầu tư bất động sản, chứng khoán, mua vàng, đô la Mỹ.

Hiện tại ở Việt Nam, khái niệm cho vay tiêu dùng vẫn chưa có định nghĩa chính thức cụ thể trong một văn bản pháp lý nào, việc vay vốn nói chung, vay vốn phục vụ nhu cầu tiêu dùng nói riêng được quy định tại luật các tổ chức tín dụng 2010 sửa đổi bổ sung một số điều năm 2017 và Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Trong các văn bản trên, không sử dụng thuật ngữ cho vay tiêu dùng, mà chỉ được gọi là “Hoạt động cho vay phục vụ nhu cầu đời sống” 5. Riêng Thông tư Số 43/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định vay tiêu dùng của công ty tài chính của Thống đốc ngân hàng nhà nước thì có nói đến hoạt cho vay tiêu dùng đó là “Cho vay tiêu dùng là việc công ty tài chính cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng là cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng của khách hàng, gia đình của khách hàng đó với tổng dư nợ cho vay tiêu dùng đối với một khách hàng tại công ty tài chính đó không vượt quá 100. Mức tổng dư nợ quy định tại khoản này không áp dụng đối với cho vay tiêu dùng để mua ôtô và sử dụng ôtô đó làm tài sản bảo đảm cho chính khoản vay đó theo quy định của pháp luật” 6.

Như vậy, cho vay tiêu dùng chưa được định nghĩa cụ thể trong Luật ngân hàng hay Luật các tổ chức tín dụng mà nó được các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành giải thích từ ngữ như trên, việc xác định mục đích kinh doanh, thương mại hay tiêu dùng lại không có quy định cụ thể từ phía ngân hàng nhà nước nên chúng ta phải hiểu gián tiếp mục đích tiêu dùng thông qua cách loại trừ hoạt động kinh doanh, thương mại 5Mục 2 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. 6Khoản 1, điều 3, thông tư số 43/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 về quy dịnh cho vay tiêu dùng của Công ty tài chính. 12 định nghĩa theo quy định của Luật Thương mại 2005 và Luật Doanh nghiệp 2014 7. mục đích tiêu dùng có thể hiểu là hoạt động nhằm phục vụ cho các nhu cầu sinh hoạt, chi tiêu trong đời sống hàng ngày của người dân không nhầm mục đích lợi nhuận.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ