Chương 1. Nhĩrng van đề lý luận pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động chưa thành niên. Thực tiễn thực hiện các biện pháp bảo vệ quyền của người lao động chưa thành niên tại Thành phố Hồ Chí Minh và giải pháp hoàn thiện. NHŨNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VÈ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN 1.
Khái quát chung về bảo vệ quyền của người lao động chưa thành niên 1. Khái niệm người chưa thành niên Xét về mặt y học, "khái niệm người chưa thành niên đê chi nhóm đối tượng chưa phát hiên hoàn toàn về thê chất càng như tâm sinh ìý3". ơ nhóm đối tượng này, về mặt thê chất có thê coi là gần hoàn thiện giống nhir người trường thành, nhưng về mặt tâm sinh lý đang ờ trong giai đoạn chưa ôn định. Dưới góc độ pháp lý, theo Công ước Liên Hợp quốc về Quyền tré em (The United Nations Convention on the Rights of the Child - UNCRC) có hiệu lực từ ngày 02/09/1990 đã định nghĩa: "Trê em ỉà bất kỳ người nào dưới ỉ8 tuôi, trừ khi pháp ìuật quốc gia có quy định khác4".
Các quốc gia thànli viên trong đó có Việt Nam đã phê chuân tham gia Công ước này. Bên cạnh đó, quy tắc tiêu chuân tối thiêu cùa Liên hợp quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh), được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 29/11/1985 nêu rõ: “Người chưa thành niên là trẻ em hay người ít tuôi tùy theo từng hệ thông pháp ìuật có thê bị xét xữ vì phạm pháp theo một phương thức khác vói việc xét xữ người lớn' (Quy tắc số 2. Như vậy, theo các văn bản quốc tế thì kê cả khái niệm trẻ em và kliái niệm người chưa thành niên đều giới hạn là dưới 18 tuôi, tuy nhiên thì theo thực tế chưa chắc trẻ em được coi là người chưa thành niên. ơ một số quốc gia trên thế giới, độ tuôi làm mốc xác định một người được coi là thành niên hay chưa thành niên cũng khác nhau.
Phần lớn các quốc gia lấy mốc 18 môi đê xác định một người được coi là đã thành niên. Cũng có một số quốc gia căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội, môi trường sống cùa quốc gia mình, sự phát triên cũa dân số 3 Ninh Thúy Ngọc (2015), Trách nhiệm bồi thườiìg thiệt hại ngoài họp đồng do người chưa thành niên gây ra theo pháp hiật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, tr. 4 Liên Họp quồc (1989), "Công ước Ọuốc tế về Ọuyền trẻ em ", tại trang https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Linh- vuc-khac/Cong-uoc-cua-Lien-hop-quoc-ve-quyen-tre-em-233659. 9 mà có quy định về độ tuôi thành niên.
Chăng hạn như Nhật Bản quy định người chưa thành niên là người chưa đù 20 tuôi. Hay một số Quốc gia như Cuba và Scotland lại quy định độ tuôi thành niên là 16 tuôi. ơ Hàn Quốc và hai tiêu bang cùa Hoa Kỳ là Alabama và Nebraska quy định độ tuổi thành niên là 19 tuổi5. ơ Việt Nam, Luật Trẻ em năm 2016 quy định: "Trẻ em ỉà người dưới 16 tuôi"6.
Tuy nhiên, quy định này đang được kiến nghị sữa đôi nâng độ tuôi đen dưới 18 đê phù hợp với quy định của Công ước quốc tế về Quyền trẻ em nhằm mục đích tăng mức độ bảo vệ trẻ em cho tất cả những người có độ tuôi dưới 18. Trong pháp luật hình sự, Bộ luật Hình sự quy định người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 đến dưới 18 tuôi. Người dưới 18 tuôi là khái niệm bao trùm cho cà các quy định trong tố tụng hình sự. Đây là nhóm đối tượng được coi là chủ thê đặc biệt trong quan hệ pháp luật nước ta, nam trong số đối mọng yếu the được xã hội quan tâm và bão vệ đặc biệt.
Nhóm người này chưa phát triên hoàn toàn về nhân cách, chưa có đầy đù quyền lợi và nghĩa vụ của công dân. Khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "Người chưa thành niên ìà người dưới 18 tnôi" và "Người chưa thành niên ìà người chưa đũ 18 tnôi". Theo đó, khái niệm người chưa thành niên bao gồm cà trẻ em, nhirng khái niệm trẻ em thì hẹp hơn khái niệm người chưa thành niên. Từ những phân tích trên, có thê thay khái niệm người chưa thành niên được xây dựng dựa trên sự phát triển ve mặt thê chất và tinh thần của con người và được cụ thê hóa bang giới hạn độ tuổi trong các văn bản pháp luật cùa từng quốc gia.
Khái niệm người lao động chưa thành niên Năm 1994, kill Bộ luật Lao động thông qua, lần đầu tiên thuật ngữ “người lao động chưa thành niên” được sử dụng đê chi những người chưa phát triên đầy đủ về thê chất, tinh thần tham gia lao động. Tiếp đến là Bộ Luật Lao động năm 2012, quy định tại Điều 161: “Người ìao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuôĩ". Đây là khái niệm đơn giản chi dựa trên cơ sờ giới hạn độ tuôi tối đa là 18 tuôi đê đề cập những người chưa phát triên đầy đủ về thê chất, tinh thần tham gia lao động. Khái niệm này chưa nêu 5 Đỗ Văn Đợi (2017), Bình ìuận lìlìừng điểm mới của Bộ ỉuật dàìi sự năm 2015, Nxb.
Côiìg cm nhân dán, tr. 6 Điều ỉ Luật Trê em năm 2016. 10 rõ những đặc tínli cơ bản làm cơ sở đê nhận biết đối tượng lao động người chưa thành niên. Điều 143 Bộ Luật Lao động năm 2019 quy định “lao động chưa thành niên ỉà người ìao động chưa đũ 18 tuôi”.
Việc sừ dụng thuật ngữ ìao động chưa thành niên và đưa ra khái niệm LĐCTN là người lao động chưa đủ 18 tuôi được quy định tại Điều luật trên được đánh giá là phù hợp với quy địnli tại Điều 21 Bộ Luật Dân sự năm 2015 về xác định độ tuôi, năng lực chù thê và trách nhiệm chù thê7. Pháp luật quốc te, chủ yếu là các công ước cùa Tô chức Lao động quốc te (ILO), không sử dụng thuật ngữ “người lao động chưa thành niên” mà chi sử dụng thuật ngữ “lao động trẻ em”. Từ khi được thành lập từ năm 1919 đến nay, ILO đã thông qua gần 200 công ước, với gan 30 công ước đề cập đến van đề lao động trẻ em, trong đó có hai công ước cơ bản đề cập tiực tiếp và mang tính bao quát (so với các công ước tiước đó) về vấn đề lao động trẻ em là Công ước số 138 về độ tuôi lao động tối thiêu (năm 1973) và Công ước số 182 về cấm và hành động ngay lập tóc đê xóa bò những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nliất năm 1999. Hai công ước này không tiực tiếp đrra ra khái niệm về trẻ em, đó là người dưới 18 tuôi.
Với những trẻ em dưới 18 tuôi, Công ước số 138 về độ tuôi lao động tối thiêu lại phân chia thành những nhóm tuôi khác nhau trên hoàn cảnh thông thirờng và hoàn cảnh đặc thù (tức với các quốc gia có nền kinli tế và điều kiện giáo dục còn hạn che, chưa thích hợp đê áp dụng các mức lao động tối thiêu trong hoàn cảnli thông thường). Xuất phát từ tính đa dạng của các loại hìnli công việc, Công ước đưa ra ba mức tuôi chính, áp dụng với các công việc nguy hại, các công việc nliẹ nhàng và các công việc không thuộc phạm vi các công việc nguy hại và công việc nhẹ nhàng. Cụ thê hóa nội dung của hai công ước trên, các nước phê chuân công ước này khi quy địnli về trẻ em lao động thường dùng thuật ngữ “lao động trẻ em” tràng với thuật ngữ được dùng trong hai công ước. Điều này có thê thấy trong pháp luật lao động của Vương quốc Anh, Keyna, Malaysia.
Các quốc gia sữ dụng thuật ngữ “lao động trẻ em” thường quan niệm thuật ngữ này được sử dụng theo hướng tiêu cực, lao động trẻ em chi là việc sử dụng lao động trẻ em vào những hoạt động kinh te trái quy định cũa pháp luật 7 PGS. Nguyễn Hừu Chi - TS. Nguyễn Văn Bình, Bình luận khoa học Bộ Luật Lao động năm 2019, NXB Tư pháp, trang 416. Tuy nhiên, không phải tất cả các quốc gia đều chi sử dụng thuật ngữ này theo nghĩa tiêu cực.
ơ một số quốc gia, thuật ngữ “lao động trẻ em” có thê bao hàm cả các quy địnli về độ tuôi lao động tối thiêu, các công việc mà trẻ em đtrợc phép tham gia, và điều kiện làm việc cụ thê đê đảm bào sự bảo vệ đối tượng này phù hợp. Song cũng có quốc gia sử dụng thuật ngt'r “người lao động chưa thành niên” nliư Slovakia, Thụy Điên, Oman, Trang Quốc. Các quốc gia sừ dụng thuật ngữ “ìao động chưa thành niên" lại có quy định khác nhau. Thứ nhất, có quốc gia quy định về người LĐCTN là toàn bộ nlrững người dưới 18 tuôi.
Chăng hạn, Điều 1 Chirơng V Luật môi traờng làm việc cũa Thụy Điên, Điều 40 Luật lao động Slovakia đều quy định: “Người ìao động dưới 18 tuôi ìà người ìao động chưa thành niên" và Điều 12 Chương V Luật môi trường làm việc của Thụy Điên còn quy định bô sung về việc: Chính phũ phài có những quy định riêng liên quan đến việc tuyên dụng LĐCTN dưới 13 tuôi đê làm công việc phù hợp. Thứ hai, có nliững quốc gia quy địnli LĐCTN lại không phải tất cả nliững người dưới 18 tuôi. 0 đây, các quốc gia quy định LĐCTN chi là những ngtrời từ 15 tuôi đến dưới 18 tuôi. Thuật ngữ “lao động tré em” đtĩợc sừ dụng trong Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 cùa Việt Nam (klioản 7 Điều 7), nhưng lại không có điều luật cụ thê giãi thích nhằm so sánh với kliái niệm “người lao động chưa thành niên”.
Tuy nhiên, căn cứ vào phạm vi áp dụng của Luật này Điều 1 nêu rõ: “trê em quy định trong Luật này ìà công dân Việt Nam dưới 16 tuôi" và klũ khoản 7 Điều 7 đề cập đến đối tượng “lao động trẻ em” tlù thuật ngữ “lao động trẻ em” có thê được hiêu là người lao động dưới 16 tuôi. Neu so sánh thuật ngữ “lao động trẻ em” và “lao động chưa thành niên” ta thấy hai thuật ngữ này không hoàn toàn đong nhất với nhau. Nhir vậy, có thê thấy rằng pháp luật quốc tế cũng như pháp luật cùa nhiều quốc gia chưa có sự thống nhất ve thuật ngữ “người ìao động chưa thành niên" hay “lao động trẻ em". Tuy nliiên, dù kliác nhau về tên gọi nhưng nội hàm của thuật ngữ “người lao động chưa thành niên" và “ỉao động trê em" đều lấy 18 tuôi là giới hạn đê phân biệt với người lao động trường thành.