Chương 1 này là khái niệm GDDS bởi từ khái niệm này mới có thể hiểu được thế nào là GDDS vô hiệu. Mặc dù được sử dụng phổ biến trong cả lĩnh vực pháp lý và trong cuộc sống hàng ngày nhưng khái niệm GDDS mới chỉ được quan tâm trong thời gian gần đây. Ở các quốc gia mà pháp luật phát triển và đạt nhiều thành tựu sớm như châu Âu hay Bắc Mỹ, thời gian đầu các nhà lập pháp chỉ quan tâm tới các giao dịch thương mại (commercial transaction). Khái niệm GDDS và nhu cầu phân biệt nó với các giao dịch thương mại chỉ được đặt ra khi xảy ra các tranh chấp trước toà và toà phải quyết định xem luật nào sẽ được áp dụng hay Toà án nào sẽ có thẩm quyền giải quyết1.
Chính vì lý do này mà ở nhiều quốc gia, khái niệm GDDS được xây dựng dựa trên nền tảng khái niệm giao dịch thương mại. Ở Việt Nam, chiếu theo từ điển tiếng Việt, giao dịch là “có quan hệ gặp gỡ, tiếp xúc với nhau” 2 và dân sự là “việc có quan hệ đến dân” hay “việc thuộc về quan hệ tài sản, hoặc hôn nhân, gia đình do Toà án xét xử, phân biệt với hình sự” 3. Như vậy, tựu chung lại, GDDS về mặt ngôn ngữ được hiểu là quan hệ gặp gỡ, tiếp xúc giữa những người dân với nhau. Tuy nhiên, nếu hiểu theo nghĩa này thì chưa thể hiện được đầy đủ bản chất của GDDS.
Do đó, khái niệm này cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn dưới góc độ khoa học. Một số định nghĩa được nêu ra bao gồm: “GDDS là hành vi được thực hiện nhằm thu được kết quả nhất định và pháp luật tạo điều kiện cho kết quả trở thành hiện thực” hay “giao dịch là một sự kiện pháp 1 https://www.org/stable/787282?seq=1#metadata_info_tab_contents, truy cập lần cuối ngày 13/9/2021. 2 Viện Ngôn ngữ (2010), Từ điển tiếng Việt phổ thông, NXB Thanh Niên, Hà Nội, tr.348 3 Ban biên tập ngôn ngữ - từ điển (1988), Từ điển tiếng Việt, NXB. Khoa học Xã hội, tr.
267 8 lý bao gồm hành vi pháp lý đơn phương hoặc đa phương làm phát sinh hậu quả pháp lý”4. Như vậy, so với góc độ ngôn ngữ, dưới góc độ khoa học, GDDS được nhấn mạnh ở việc tạo ra các kết quả nhất định hoặc các hậu quả pháp lý. Điều này đã được cụ thể hoá và nêu chi tiết hơn ở định nghĩa của khoa học pháp lý. Theo từ điển Luật học, GDDS là hành vi pháp lý đơn phương hoặc Hợp đồng cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự.
Cách hiểu này cũng đã được luật hoá tại Điều 116 BLDS 2015 của nước ta. Theo đó, “GDDS là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Nói tóm lại, từ các khái niệm nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa chung về GDDS như sau: GDDS là sự trao đổi, gặp gỡ, tiếp xúc giữa các chủ thể với nhau trên cơ sở nền tảng là Hợp đồng hoặc các hành vi pháp lý đơn phương. Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu Trên thực tế, GDDS là hoạt động diễn ra phổ biến hàng ngày, hàng giờ ở khắp mọi nơi trên trái đất.
Đây chính là nền tảng và động lực cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Thông qua các GDDS, hàng hoá, nhà cửa, vật phẩm được lưu thông. Tuy nhiên, không phải GDDS nào cũng có thể được thực hiện trên thực tế. Chính vì vậy mà GDDS thường được chia thành hai loại là GDDS có hiệu lực và GDDS vô hiệu.
Theo cách hiểu về mặt ngữ nghĩa, vô hiệu là “không có hiệu lực, không có hiệu quả; trái với hữu hiệu”5. Do đó, GDDS vô hiệu cũng là việc xác lập hoặc thực hiện Hợp đồng hay hành vi pháp lý đơn phương mà không có hiệu lực pháp lý, không được pháp luật bảo hộ. Tại Việt Nam, Điều 122 BLDS 2015 quy định: “GDDS không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác”. Điều kiện này bao gồm: chủ thể tham gia GDDS, ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, mục đích, nội dung và hình thức của GDDS.
Tuy nhiên trong đó, điều kiện về hình thức không mang tính 4 Nguyễn Văn Cường (2005), Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, Luận án Tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội. 5 Ban biên tập ngôn ngữ - từ điển, tlđd, tr.1158 9 bắt buộc, trừ khi pháp luật có quy định bắt buộc về mặt hình thức với một GDDS cụ thể. Các điều kiện mà một GDDS cần phải thoả mãn để không vô hiệu sẽ được trình bày cụ thể dưới đây, gồm: Một là quy định về chủ thể tham gia vào các GDDS. Vì sự đa dạng của chủ thể và đa dạng trong tính chất của GDDS nên không phải người hay tổ chức nào cũng có thể tham gia vào mọi GDDS mà mình mong muốn.
Ví dụ như một học sinh lớp 2 không thể tự mình sử dụng tiền mừng tuổi để mua nhà hay như mặc dù là phó giám đốc tại công ty nhưng anh A không thể thay mặt công ty tự ý xác lập giao dịch bán hàng hóa cho đối tác vì anh A không phải là người đại diện theo pháp luật của công ty hay được công ty ủy quyền. Do đó, pháp luật các nước nhìn chung đều yêu cầu chủ thể tham gia GDDS phải có năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch cụ thể được xác lập. Cụ thể, năng lực hành vi dân sự là khả năng cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện các nghĩa vụ dân sự. Việc xác định năng lực hành vi dân sự của một cá nhân dựa vào ba yếu tố là độ tuổi, khuyết tật về tinh thần và trạng thái tỉnh táo của người thực hiện hành vi.
Thông thường, người thành niên từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có thể tham gia vào mọi GDDS. Những người dưới 18 tuổi hoặc từ 18 tuổi trở lên nhưng không có hoặc bị hạn chế về mặt nhận thức và làm chủ bản thân thì chỉ có thể tham gia vào một số giao dịch nhất định hoặc thông qua người đại diện để thực hiện. Ngoài ra, theo pháp luật Việt Nam thì trẻ dưới 6 tuổi hoặc trẻ dưới 7 tuổi theo pháp luật Anh và Đức không có năng lực hành vi dân sự, mọi giao dịch phải được thực hiện bởi người đại diện. Đối với pháp nhân, việc xác định chủ thể phụ thuộc vào mục đích thành lập, nhiệm vụ của pháp nhân hay với pháp nhân kinh tế thì phụ thuộc vào nội dung đăng ký kinh doanh được ghi tại các giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hay giấy chứng nhận đầu tư.
Ví dụ như trong các ngành nghề kinh doanh có điều kiện như kinh doanh bất động sản, ngân hàng, pháp nhân chỉ được hoạt động khi đáp ứng các điều kiện về vốn do pháp luật chuyên ngành quy định và có đăng ký kinh doanh phù hợp. Pháp nhân không thể trực tiếp tham gia vào các GDDS mà tham gia thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền. Thông thường, nếu đó là các doanh nghiệp 10 thì điều lệ công ty luôn quy định về người đại diện theo pháp luật và thẩm quyền tương ứng của người này khi tham gia vào các GDDS, thương mại. Hai là quy định về nội dung, mục đích của GDDS.
Dù được thể hiện dưới dạng vật chất hay phi vật chất thì mọi chủ thể khi tham gia vào một GDDS đều nhằm đạt được một mục đích cụ thể. Đây chính là yếu tố được các ngành khoa học và khoa học pháp lý nhấn mạnh khi nêu ra định nghĩa GDDS. Các bên sẽ đạt được mục đích bằng việc thực hiện các nội dung của giao dịch. Mặc dù các nước đều tôn trọng quyền tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận và xác lập GDDS nhưng mục đích và nội dung của giao dịch vẫn phải hợp pháp và không trái đạo đức xã hội.
Điều này có thể tìm thấy ở mọi hệ thống pháp luật trên thế giới dưới nhiều tên gọi khác nhau nhưng phổ biến nhất là cụm từ “chính sách công” (public policy). Và mặc dù cụm từ này không được định nghĩa, các học giả và cơ quan lập pháp tại các nước đều coi nó là các chuẩn mực xã hội và luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng để phù hợp với mỗi giai đoạn khác nhau của xã hội, đặc tính của quốc gia hay vụ việc6. Một khi đi ngược lại với các giá trị này, có thể là các vi phạm pháp luật hoặc đạo đức nói chung, thì GDDS sẽ không thể, không được thực hiện hay không được thừa nhận trên thực tế bất chấp việc cả hai bên có đồng thuận hay không. Ba là quy định về sự tự nguyện khi tham gia GDDS.
Mặc dù nội dung và mục đích của GDDS quan trọng nhưng các nước vẫn tôn trọng và đề cao sự tự do ý chí và thoả thuận giữa các bên tham gia giao dịch. Điều này được phát triển từ nguyên tắc tự do hợp đồng trong các giao dịch về thương mại. Ví dụ: Điều 123 BLDS Đức, việc thể hiện ý định tham gia GDDS của một cá nhân, từ đó dẫn tới hình thành một GDDS có thể bị huỷ bỏ nếu người này bị ép buộc7. Như vậy, việc các bên có thể tự do thể hiện ý chí của bản thân mà không bị ràng buộc, bắt ép bởi bất kỳ cá nhân hay thiết chế nào là yếu tố vô cùng quan trọng nhằm xác lập giao dịch hay Hợp đồng dân sự.
Chủ thể tham gia giao dịch chỉ có thể thực hiện sự tự do này nếu họ tự 6 Lawarée Valentin (2014), Public Policy in English and American Law, Universiteit Gent, https://libstore.be/fulltxt/RUG01/002/163/178/RUG01-002163178_2014_0001_AC.pdf, ngày truy cập 29/3/2021. 7 Bộ Luật Dân sự Đức (2013), https://www.gesetze-im-internet.de/englisch_bgb/englisch_bgb.html#p0364, ngày truy cập 2/4/2021. 11 nguyện tham gia giao dịch, không bị lừa dối, cưỡng ép hay đe dọa dưới bất kỳ hình thức nào. Điều kiện này cũng có quan hệ mật thiết tới quy định về năng lực hành vi dân sự của chủ thể.
Bởi lẽ, chỉ những người đạt độ tuổi nhất định, có suy nghĩ vừa đủ, có sự sáng suốt và nhận thức rõ ràng thì mới có thể cân nhắc khi tham gia các GDDS. Bốn là điều kiện về hình thức của GDDS. GDDS có hình thức rất đa dạng và phụ thuộc nhiều vào sự tự do ý chí và quyết định của các bên.