Chương 1. TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG CÓ MỘT BÊN YẾU THẾ Để có góc nhìn học thuật rõ ràng hơn về một vấn đề còn khá mơ hồ trong nghiên cứu luật học tại Việt Nam, người viết xin bắt đầu từ những định nghĩa, đặc trưng và những vấn đề lý luận cơ bản nhất liên quan đến hợp đồng có một bên yếu thế.1 Những vấn đề cơ bản về hợp đồng có một bên yếu thế 1.1 Định nghĩa về hợp đồng Kiến thức về luật hợp đồng luôn rộng mở, tùy thuộc vào phương hướng nghiên cứu của từng học giả mà được phát triển theo các chủ đề khác nhau, nhưng tồn tại một mẫu số chung là các bài nghiên cứu, bài viết về hợp đồng đều được bắt đầu bằng câu hỏi: Hợp đồng là gì? Đối với một người đọc khắt khe, người viết đang lặp lại việc trả lời câu hỏi mà bất cứ tác giả nghiên cứu về luật hợp đồng nào cũng đã giải quyết trước đây. Tuy nhiên, người viết cho rằng, muốn giải quyết vấn đề nào đó, đều phải bắt đầu từ cội nguồn của vấn đề đó. Chính vì vậy, khái niệm rất quen thuộc: “hợp đồng” sẽ được làm rõ tại phần đầu tiên của nghiên cứu này.
Theo một quan niệm rất phổ biến trong xã hội vẫn tồn tại cho đến ngày nay, một văn bản được coi là hợp đồng khi nó mang tiêu đề “Hợp Đồng”, bắt buộc phải có chữ ký các bên, có giấy trắng, có mực đen, thì khi đó văn bản đó mới được xem là một hợp đồng – và cùng lúc, văn bản đó mang một giá trị pháp lý nhất định. Tuy vậy, nội hàm của khái niệm hợp đồng lại đơn giản hơn và thông dụng hơn rất nhiều. Trong thực tiễn áp dụng, một văn bản với tên “thỏa thuận”, hay “biên bản”, đến “cam kết” đều chính là những hợp đồng. Ngay cả việc mỗi sáng chúng ta mua một cốc cà phê nhỏ, hay nhấp chuột mua một cuốn sách trên các trang thương mại điện tử, chúng ta đã bước vào quan hệ hợp đồng dù không hề tồn tại một tờ giấy hay chữ ký nào.
Theo người viết, hợp đồng cơ bản là một thỏa thuận. Dưới góc độ pháp luật, do tính chất phổ biến của hợp đồng trong đời sống, chế định này được hầu hết pháp luật các quốc gia ghi nhận từ rất lâu. Châu Âu là nơi có bề dày lịch sử lập pháp về hợp đồng, được ghi nhận đầu tiên tại Luật La Mã cổ đại 1. Đến thế kỷ thứ 1 Nguyễn Ngọc Khánh, 2006.
Chế định hợp đồng từ Luật La Mã đến BLDS, Tạp chí Kiểm sát, số 7 (4-2006), tr. 123doc 7 XVIII – XX, sự phát triển của ngành khoa học pháp lý cũng như những tác động từ sự chuyển hóa kinh tế – xã hội đã khiến cho chế định hợp đồng lần lượt được các nước Châu Âu pháp điển hóa vào bộ luật dân sự của quốc gia mình. Chẳng hạn như tại quy định của Bộ luật Napoleon, hay còn gọi là BLDS Pháp - có hiệu lực từ năm 1804 và mang giá trị cho đến tận ngày nay - đã quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó”2. Tại Việt Nam, sự phát triển của hệ thống pháp luật nói chung, chế định pháp luật hợp đồng nói riêng có lịch sử phát triển có phần chậm hơn so với các nước trên thế giới.
Thuật ngữ “hợp đồng” hoặc tương đương không thể tìm thấy trong các văn bản pháp luật chính thức nào của nhà nước phong kiến Việt Nam3. Cho đến khi lịch sử lập pháp Việt Nam chứng kiến sự ra đời của ba bộ dân luật quan trọng, đó là Bộ Dân Luật giản yếu Nam Kỳ năm 1883, Bộ Dân Luật Bắc Kỳ năm 1931 và Bộ Dân Luật Trung Kỳ năm 1936. Đây là kết quả tiếp thu kinh nghiệm từ BLDS Pháp du nhập vào nước ta, đánh dấu lần đầu tiên pháp luật Việt Nam định nghĩa “hợp đồng” – tại thời điểm đó mang tên gọi là “khế ước” – là “một hiệp ước của một người hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người khác để chuyển giao, để làm hay không làm cái gì”4. Cho đến ngày nay, pháp luật Việt Nam hiện hành định nghĩa hợp đồng là “sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”5.
Định nghĩa này tuy ngắn gọn nhưng đã khái quát đầy đủ nội hàm cơ bản của hợp đồng, đồng thời thể hiện chính xác bản chất của hợp đồng là một thỏa thuận. Tóm lại, cho dù được định nghĩa như thế nào, bằng ngôn ngữ gì, hợp đồng tại bất kỳ nơi đâu trên thế giới, trong bất kỳ lĩnh vực nào, đều có bản chất là một sự thỏa thuận 2 Điều 1011 BLDS Pháp. 3 Nguyễn Ngọc Khánh, 2006. Chế định hợp đồng từ Luật La Mã đến BLDS.
Tạp chí Kiểm Sát, số 7 (4-2006), tr. 4 Điều 644, đoạn 2, Bộ Dân Luật Bắc Kỳ và Điều 680, đoạn 2, Bộ Dân Luật Trung Kỳ. 123doc 8 giữa hai hoặc nhiều bên, tạo ra các trách nhiệm pháp lý cho các bên bởi những quyền và nghĩa vụ phát sinh từ thỏa thuận đó6. Trong một nền kinh tế thị trường ngày một sôi động, các quan hệ xã hội ngày càng mở rộng, đây chính là tiền đề cho việc gia tăng các giao dịch kinh tế, dân sự với nội dung, tính chất ngày một phức tạp với sự sáng tạo không ngừng của các chủ thể tham gia.
Ngày nay, bản chất hợp đồng được pháp luật đề cập vẫn không thay đổi - vẫn là sự thỏa thuận giữa các bên. Tuy nhiên, quan hệ hợp đồng hiện nay đã phát triển phức tạp hơn với các loại hợp đồng mới mẻ, trong đó có hợp đồng có một bên yếu thế - vốn đang gây ra nhiều tranh chấp trong thực tiễn hiện nay. Do đó, cần thiết phải giải quyết tiếp theo đây là trả lời câu hỏi, hợp đồng có một bên yếu thế là như thế nào? 1.2 Định nghĩa về hợp đồng có một bên yếu thế Trước tiên, phân tích từ tên gọi “hợp đồng có một bên yếu thế”, ta xác định được trước hết đây là một quan hệ hợp đồng, tức tồn tại một thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều bên, trong đó chủ thể của quan hệ hợp đồng này sẽ bao gồm một bên mạnh thế và một bên yếu thế. Đi vào sâu hơn phân tích nội hàm của quan hệ hợp đồng này, bản chất của sự thỏa thuận giữa bên mạnh thế và bên yếu thế phải tồn tại sự mất cân xứng về một khía cạnh nào đó thuộc về hợp đồng.
Đó có thể là sự mất cân xứng về khía cạnh năng lực đàm phán, hay lợi thế về thông tin hoặc sự chiếm ưu thế trong khả năng giải quyết tranh chấp và chính sự mất cân xứng này dẫn đến sự không cân bằng về mặt lợi ích giữa các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng. Trước đây, khi bàn về bên yếu thế trong pháp luật hợp đồng thường được các nhà nghiên cứu đề cập ở những góc độ yếu thế về năng lực hành vi tham gia quan hệ hợp đồng, như về vấn đề thể chất hoặc khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ thể. Thật vậy, tại Việt Nam khi nghiên cứu về đề tài này nhiều quan điểm cho rằng bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng cũng tương đồng với nhóm yếu thế (nhóm thiệt thòi) được đề cập trong các vấn đề về an sinh xã hội như người tàn tật, thanh thiếu niên, người cao tuổi, phụ nữ, trẻ Hoàng Thế Liên (Cb), 1997. Bình luận khoa học Một số vấn đề cơ bản của BLDS (1995), 6 NXB Chính Trị Quốc Gia, tr.
123doc 9 em…7 Tuy nhiên, xét trong phạm vi nghiên cứu về đề tài “hợp đồng có một bên yếu thế” thì việc xác định như trên là chưa đầy đủ. Ở một góc nhìn khác, các nhà nghiên cứu luật học tại Trường Đại học Luật TP.HCM vừa qua đã tổ chức nghiên cứu về “Bảo vệ quyền lợi của người yếu thế trong lĩnh vực dân sự” bao gồm các vấn đề như hợp đồng dân sự theo mẫu, hợp đồng cho vay nặng lãi, hợp đồng có chủ thể yếu thế về thông tin, hợp đồng có chủ thể là lao động nữ, lao động trẻ em, người khuyết tật, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần…8. Tiến hành rà soát các văn bản pháp luật dân sự hiện hành tại Việt Nam thì có thể thấy rằng, vấn đề hợp đồng có một bên yếu thế là gì và có những đặc trưng thế nào vẫn chưa được trực tiếp ghi nhận cụ thể. Tuy nhiên, trong lịch sử lập pháp Việt Nam đã từng minh thị quy định bảo về bên yếu thế trong hợp đồng với việc xác định sự không công bằng về lợi ích – hay còn gọi là “sự thiệt thòi” – chính là một “tì ố của sự ưng thuận”, là một yếu tố dẫn đến hợp đồng mất hiệu lực, đồng nghĩa giải thoát cho bên yếu thế khỏi các nghĩa vụ ràng buộc tại hợp đồng.
Tại các Điều 652 Bộ Dân Luật Bắc Kỳ và Điều 688 Bộ Dân Luật Trung Kỳ đều có quy định rằng trong một khế ước, một bên chịu thiệt thòi (la lésion) khi nào họ không nhận được những lợi ích tương đương với cùng khoản mà họ phải cấp cho người đối ước như trường hợp mua đắt, bán rẻ, làm công quá hạ, trả lãi quá cao… thì pháp luật, trong một số trường hợp hạn định, sẽ chấp nhận sự thiệt thòi này như một nguyên nhân để tiêu hủy khế ước9. Để áp dụng quy định này, khế ước có sự thiệt thòi phải thỏa mãn 02 hai yếu tố bắt buộc như sau: (i)Một là, sự thiệt thòi trong khế ước phải lớn hơn ngạch khoản đã minh thị trong luật, tùy theo khế ước. Chẳng hạn như theo quy định tại Điều 986 Bộ Dân Luật Bắc 7 Xác định về nhóm yếu thế/nhóm thiệt thòi theo nghiên cứu “Công tác hỗ trợ nhóm yếu thế ở Việt Nam” của Phạm Văn Quyết, Phạm Anh Tuấn.ly/2ttCf95 truy cập ngày 25/6/2017. 8 Xem thêm Hội thảo “Bảo vệ quyền lợi của người yếu thế trong lĩnh vực dân sự” do Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật TP.HCM năm 2013 http://www.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&view=article&id= 8719:luat-dan-su&catid=330:s-ds-nckh&Itemid=369 9 Vũ Văn Mẫu, 1963.
Việt Nam Dân luật lược khảo – Quyển II. Sài Gòn, Nhà xuất bản Bộ Quốc gia Giáo dục, tr.