Chương 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE HỢP DONG VẬN CHUYEN HANH KHACH BANG DUONG HANG KHONG 1. Khái quát về vận chuyển hàng không 1. Khái niệm vận chuyển hàng không Vận chuyên hàng không được định nghĩa là sự tập hợp của các yếu tổ kinh tế kỹ thuật nhằm khai thác, chuyên chở bằng tàu bay một cách có hiệu qua, đáp ứng nhu cau di chuyền vị trí của đối tượng được vận chuyền. Hay có thể hiểu đơn giản, vận chuyển hàng không là hình thức vận chuyền sử dụng máy bay chuyên dụng dé chở hàng hóa, con người từ nơi này sang nơi khác.
Theo Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2014 đã định nghĩa: “Vận chuyền hàng không là việc vận chuyền hành khách, hành lý, hàng hóa, bưu gửi bang đường hàng không. Vận chuyển hàng không bao gồm vận chuyền hàng không thường lệ và vận chuyên hàng không không thường 16”! Liên quan đến khái niệm nay, tác giả xin cung cấp thêm các định nghĩa sau: - Có thé hiểu vận chuyên thường lệ và vận chuyên không thường lệ là đang nói về chuyến bay thường lệ và chuyến bay không thường lệ do các chuyến bay này đều thực hiện việc vận chuyên. Vận chuyển hàng không thường lệ là việc vận chuyên bao gồm các chuyến bay được thực hiện đều đặn, thường xuyên theo lịch bay được công bố và được mở công khai cho công chúng sử dụng và vận chuyên hàng không không thường lệ”. - Trong xu hướng tự đo hóa toàn cầu hiện nay, các hãng hàng không trên thế ! Khoản 1, Điều 109 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, sửa đôi bởi Khoản 39, Điều 1 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam sửa đổi bé sung 2014.
? Khoản 1, Điều 109 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, sửa đôi bởi Khoản 39, Điều 1 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam sửa đổi bé sung 2014. giới không ngừng liên minh với nhau nhằm xây dựng mạng lưới hàng không toàn cầu. Các tổ chức vận chuyên hàng không quốc tế đã được thành lập gồm: - Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế (International Civil Aviation Organization - ICAO), thành lập năm 1947 và đến nay đã có 185 nước là thành viên chính thức cua ICAO, trong đó có Việt Nam (từ năm 1980). Hiệp hội hàng không quốc tế (International Air Transport Association - IATA) với 223 thành viên chính thức.
Hãng hàng không quốc gia Việt Nam chưa phải là thành viên chính thức cua IATA. Hiệp hội các hãng hàng không châu Á - Thái Bình Dương (Association of Asia Pacific Airline - AAPA), thành lập năm 1965, đến nay có 19 hãng hàng không là thành viên chính thức, trong đó có Hãng hàng không quốc gia Việt Nam (từ năm 1997). Hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa bằng đường hàng không quốc tế được điều chỉnh bởi các điều ước quốc tế sau đây: a. Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận tải hàng không quốc tế (The Convention for the Unification of Certain Rules Relating to International Carriage by Air) Kí kết tai Vacsava ngày 12/10/1929, gọi tắt là Công ước Vacsava năm 1929.
Đến nay, đã có gần 130 nước trên thế giới đã phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước này. Việt Nam tham gia Công ước này ngày 11/10/1982. Nghị định thư sửa đổi Công ước Vacsava năm 1929 Kí kết ngày 28/9/1955 tại Hague, nên được gọi là Nghị định thư Hague năm 1955 (The Hague Protocol). Công ước bồ sung Công ước Vacsava Kí kết tại Guadalajara ngày 18/9/1961, gọi tắt là Công ước Guadalaijara, áp dụng trong trường hợp vận tải hàng không được tiến hành bởi một người không phải là người vận chuyên theo hợp đồng (Contracting carrier).
Hiệp định liên quan tới giới han cua Công ưóc Vacsava và Nghị định thư Hague Kí kết tại Montreal ngày 13/5/1966, gọi là Hiệp định Montreal năm 1996. Nghị định thư sửa đối Công ước Vacsava, kí kết năm 1971 e. Các Nghị định thư Montreal năm 1975 bồ sung Công ước Vacsava Gồm các nghị định thư số 1, 2, 3, 4 liên quan đến việc thay thế đồng tiền dé tính giới hạn trách nhiệm bồi thường của người vận chuyển hang không, thời gian thông báo tổn thất, khiếu nại người vận chuyên hang không là đồng Fr.vàng bang quyền rút vốn đặc biệt (SDR). - Chuyến bay quốc tế thường lệ được Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế (International Civil Aviation Organization - ICAO) định nghĩa là một loạt các chuyến bay mà có tất cả các đặc tính sau: Thứ nhát, thực hiện qua khoảng không trên lãnh thổ của nhiều quốc gia; Thứ hai, được thực hiện boi tau bay vận chuyên hành khách, bưu kiện, hàng hóa nhằm mục đích thu lợi mà mỗi chuyên bay được mở ra cho công chúng sử dụng; Thứ ba, được khai thác dịch vụ giao thông giữa hai hay nhiều điểm; Thứ tw, phù hợp với một lich bay đã được công bố; Thứ năm, với các chuyên bay đều đặn hoặc thường xuyên mà tạo thành một loạt các chuyến bay có hệ thống có thé được thừa nhận.
Ở một số quốc gia quy định những chuyến bay không thường lệ bằng cách liệt kê chỉ tiết những chuyến bay mà quốc gia đó cho là không thường lệ như: những chuyến bay thuê chuyến, những chuyến bay thực hiện vì mục đích nhân đạo; những chuyến bay khẩn cấp. nhưng phải đáp ứng điều kiện là các chuyến bay đó không thường xuyên đều đặn, không theo hệ thống lịch đã được công bố. Ở Việt Nam hiện nay, vận chuyển hàng không đóng vai trò quan trọng trong nên kinh tế quốc dân, là công cụ quan trọng trong việc thực hiện chính sách mở cửa, và là một trong các ngành kinh tế — kỹ thuật mũi nhọn cần phải đi trước để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, gop phan quan trọng vao tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời có vai trò rất lớn trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.
Khái niệm hop đồng vận chuyén bằng đường hang không Ở trên đã nói tới hàng không dân dụng với tính cách là một ngành kinh tế - kỹ thuật bao hàm các mục tiêu và các hoạt động liên quan trực tiếp và gián tiếp diễn ra ở đó. Việc điều tiết các hoạt động này cần phải nhờ tới các qui định của cả luật công và luật tư, luật quốc gia và luật quốc tế. Tổng thê các qui định này điều tiết các mối quan hệ sau: (1) quan hệ giữa quốc gia này với quốc gia khác trong việc quốc gia này cho phép người (thể nhân và pháp nhân) của quốc gia khác sử dụng không phận của mình cho hoạt động hàng không, và ngược lại; (2) quan hệ giữa quốc gia và người nước ngoai liên quan tới hoạt động hàng không; (3) quan hệ giữa người của các nước khác nhau trong hoạt động hàng không; (4) quan hệ giữa nhà nước và người của nước mình liên quan tới hoạt động hàng không; va (5) quan hệ giữa người ở cùng một nước trong hoạt động hàng không. Có thể hiểu một cách đơn giản, hoạt động hàng không là các hoạt động khai thác tầu bay và các dịch vụ hỗ trợ.
Vậy hợp đồng vận chuyển bang đường hàng không là sự thỏa thuận giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyên, theo đó người vận chuyên có nghĩa vụ vận chuyền đến và trả cho người có quyền nhận. Theo đó người vận chuyền có nghĩa vụ vận chuyên đến địa điểm đến; người thuê vận chuyên có nghĩa vụ thanh toán giá dịch vụ vận chuyên””. 3 Điều 128-Luật sửa đồi, bé sung một số điều của Luật Hang không dân dụng sửa đổi, bé sung năm 2014. Như vậy hợp đồng vận chuyền hàng không nói chung là một loại hợp đồng dịch vụ, tức là bên vận chuyên cung cấp một dịch vụ (làm một công việc) đưa hành khách hoặc hành lý, hàng hóa, bưu kiện từ điểm khởi hành tới điểm đến dé lấy tiền.
Bên thuê vận chuyên có thé là hành khách hoặc người gửi hành lý, hàng hóa hoặc bưu kiện. Bên thuê vận chuyên trả giá cước vận chuyên theo quy định hoặc được phê duyệt. Hợp dong này là loại hợp đồng ưng thuận, song vụ, có đền bu. Tuy nhiên các điều kiện của hợp đồng được thé hiện trong điều lệ vận chuyên mà vé hay vận đơn chỉ nêu vài điểm chính các điều kiện đó.
Như vậy nó gần với loại hợp đồng theo mẫu. Từ định nghĩa có thé thay hợp đồng vận chuyền chính là một dạng hop đồng dân sự làm phát sinh nghĩa vụ dân sự giữa bên gửi hàng và bên vận chuyển. Cụ thể, khi hợp đồng vận chuyển được xác lập làm phát sinh hai nghĩa vụ chính đó là bên vận chuyên có nghĩa vụ chuyên chở đến địa điểm đã thỏa thuận trong hợp đồng còn bên vận chuyền phải trả cước phí vận chuyền. Đồng thời, hợp đồng vận chuyên hàng hóa bằng đường hàng không cũng mang tinh chất thương mại được thé hiện rat rõ khi Luật đã quy định: “Người vận chuyên là tổ chức cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng hóa thương mại băng đường hàng khong”.
Hình thức của hợp đồng vận chuyển bằng đường hàng không là vận đơn hàng không. “Vận đơn hàng không là chứng từ vận chuyển hàng hóa băng đường hàng không và là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng, việc đã tiếp nhận hàng hóa và các điều kiện của hợp đồng””. Khái niệm về hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không * Khoản 1- Điều 128 Luật số 61/2014/QH13 sửa đổi, bố sung một số điều của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam. ‹ „ Š Khoản 1, Điều 129 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (Luật số: 66/2006/QH11) ngày 29/6/2006.
Luật đã đưa ra định nghĩa: “hợp đồng vận chuyên hành khách, hành lý băng đường hàng không chính là sự thỏa thuận giữa người vận chuyển và hành khách, theo đó người vận chuyển sẽ chuyên chở hành khách, hành lý đến địa điểm đến và hành khách phải thanh toán tiền cho người vận chuyên”. Trước hết hợp đồng vận chuyên hành khách khác hoàn toàn với hợp đồng vận chuyên hàng hóa (kê cả hành ly và bưu kiện) ở chỗ đối tượng của vận chuyên là người, còn vận chuyền hang hóa (hành lý và bưu kiện) là đồ vật. Vì vậy vận chuyên đồ vật là loại hợp đồng bao gồm người gửi, người vận chuyền, và người nhận. Người nhân không phải là người giao kết hợp đồng vận chuyên nhưng có quyền nhận đồ vật được vận chuyên đến địa điểm đến.
Đây là hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba. Hai loại hợp đồng này khác nhau ở trách nhiệm đối với thiệt. Thiệt hại trong vận chuyên người chủ yếu là ton hại tính mạng, sức khỏe của hành khách. Còn thiệt hại trong vận chuyên đồ vật là mat mát, thiết hụt, hưu hỏng đồ vật.