Chương 1: Những vấn đề chung về hợp đồng, hợp đồng kinh tế vô hiệu và xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu Hợp đồng là hình thức pháp luật chủ yếu của các giao dịch thị trường để mở rộng các hoạt động kinh tế thông qua việc cho phép chuyển giao quyền sở hữu tài sản trong tương lai và cho phép các tác nhân tham gia thị trường xây dựng nên “pháp luật” giữa họ với nhau đối với mỗi giao dịch [99, 55]. Trong cơ chế thị trường, vấn đề quan trọng phải làm cho những nguyên tắc cơ bản về hợp đồng càng rõ ràng, chặt chẽ và chắc chắn càng tốt. Trong thời gian qua, các tranh chấp về hợp đồng kinh tế (HDKT) do Toà án giải quyết, trong đó có hợp đồng vô hiệu, chiếm số lượng chủ yếu trong các tranh chấp kinh tế (xem phụ lục). HDKT vô hiệu là một vấn đề quan trong trong các quy định của pháp luật về HDKT; liên quan trực tiếp đến quan điểm của Nhà nước ta về trật tự kỷ cương ma Nhà nước muốn thiết lập đối với quan hệ HDKT, liên quan đến việc bảo vệ quyền, lợi ích của các bên.
HDKT vô hiệu và xử lý HĐKT vô hiệu là những vấn dé gắn chặt với khái niệm HDKT, sự hình thành hợp đồng và hiệu lực của HDKT. Muốn xác định HĐKT vô hiệu chính xác trước hết phải xác định thế nào là HĐKT và hiệu lực của HĐKT. Bởi nhận thức không đúng về HĐKT và hiệu lực cuả HDKT thì không thể xác định đúng và xử ly đúng đối với HDKT vô hiệu.1 Khái niệm HDKT 1.1 Khái niệm HĐKT trong khoa học luật và trong quy định của luật thực định. Về phương diện khoa học luật, theo nghĩa chung nhất hợp đồng là sự thoả thuận giữa hai hay nhiều người nhằm mục đích tạo lập, thay đổi, chấm dứt nghĩa vu[73,13], nói cách khác Khế ước(hợp đồng) là một hợp ước (thoả thuận) của hai hay nhiều người nhằm mục đích tạo lập, cải đổi hay tiêu diệt quyền lợi[102,56].
Theo nghĩa chủ quan, hợp đồng là một giao dịch mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến một thoả thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ nhất định[69,90]. Như vậy khái niệm hợp đồng dùng chỉ một cách khái quát nhất sự thoả thuận có hiệu lực pháp luật của hai hay nhiều chủ thể về một vấn đề nhất định mà thông qua thoả thuận đó quyền hoặc nghĩa vụ của các bên tham gia được xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt. Quan niệm về hợp đồng như trên đã chi phối và được thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật về hợp đồng của Việt nam cũng như nhiều nước; ví dụ Điều | của Pháp lệnh hợp đồng dân su[16], Điều 394 Bộ luật Dân sự{6], Điều 26 của Bộ luật Lao động[8], Điều 12 của luật Kinh doanh bảo hiểm[9], cũng tương tự như vậy Điều 653 Bộ luật Dân sự của Việt nam Cộng hoà quy định: Khế ước hay hiệp ước là một hành vi pháp lý do sự thoả thuận giữa hai hay nhiều người để tạo lập, di chuyển, biến cải hay tiêu trừ một quyền lợi đối nhân hoặc đối vật[58]. Bộ luật Dân sự Cộng hoà Pháp Điều 1101 quy định: hợp đồng dân sự là sự thoả thuận theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một việc nào đó[63].
Điều 2 Luật hợp đồng của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quy định: Hợp đồng gọi trong luật này là sự thoả thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng tự nhiên nhân, pháp nhân, các tổ chức khác[61]. Theo pháp luật Hoa Kỳ hợp đồng là sự thoả thuận có hiệu lực bắt buộc: hợp đồng được hiểu là một hoặc nhiều sự hứa hẹn, mà việc thực hiện chúng được coi là các nghĩa vụ pháp luật bắt buộc phải thi hành[83]. Xét riêng trên lĩnh vực pháp luật kinh tế ở Việt nam, trước khi có Pháp lệnh HĐKT, trong các văn bản pháp luật về kinh tế của Nhà nước ta đã nêu ra khái niệm về hợp đồng kinh doanh, HDKT[37]. Hiện nay, khi Pháp lệnh HDKT là văn bản quy định trực tiếp về HDKT đang có hiệu lực, có quan điểm cho rằng khái niệm HĐKT(theo nghĩa chủ quan) chỉ cần hiểu theo Điều 1 Pháp lệnh HDKT; các giáo trình luật kinh tế hầu như đều phân tích khái niệm HDKT theo điều này.
Tuy nhiên, để hiểu đầy đủ về HDKT, theo pháp luật thực định hiện hành của Việt nam, cần dựa vào quy định tại Điều 1, 2,11, 42, 43 Pháp lệnh HDKT[17] và đây là cách hiểu phù hợp với thực tế đòi hỏi khi xác định HĐKT: Diéul-“ HDKT là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng các quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình”. Điều 2-HĐKT được ký kết giữa các bên sau đây: pháp nhân với pháp nhân; pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Điều 11-HDKT được ký kết bang văn bản, tài liệu giao dịch: công văn, điện báo, đơn chào hang, đơn đặt hàng. HDKT được coi là hình thành và có hiệu lực pháp lý từ thời điểm các bên ký vào văn bản hoặc từ khi 2 các bên nhận được tài liệu giao dịch thể hiện sự thoả thuận về tất cả những điều khoản chủ yếu của hợp đồng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác đối với từng loại HĐKT.
Xét về thực chất HDKTciing giống như hợp đồng dân sự, đều là sự thoả thuận giữa các chủ thể về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong những quan hệ cụ thể[66,260); Thực chất HDKT là mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể ký kết, đó là mối quan hệ ý chí được xác lập một cách tự nguyện, bình đẳng thông qua hình thức văn bản[65, 291-292). Qua quy định tại Điều 1,2,11 Pháp lệnh HDKT cho thấy, khái niệm HDKT vừa thể hiện ban chất chung của hợp đồng như khoa học pháp lý đã chỉ ra, vừa có các đặc trưng pháp lý sau làm cơ sở xác định HDKT. Thứ nhất: HDKT là sự thoả thuận giữa các bên ký kết nhằm phục vu mục đích sản xuất kinh doanh. Thứ hai: Thoả thuận HĐKT thể hiện dưới hình thức văn bản, tài liệu giao dịch.
Các cam kết bằng miệng trong quan hệ kinh tế không được coi là hợp đồng kinh tế- Công văn số 11/KHXX ngày 23/1/1996[50]. Thứ ba: Chủ thể của HDKT ít nhất một bên phải là pháp nhân, chủ thé còn lại tham gia quan hệ hợp đồng có thể là pháp nhân hoặc cá nhân có đăng ký kinh doanh (Điều 2 Pháp lệnh). Đây là cơ cấu chủ thể phổ biến trong thực tế của HDKT. Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số 17/HDBT ngày 16/1/1990(50] của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định chỉ tiết thi hành Pháp lệnh HDKT thì: cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật là người đã được cấp giấy phép kinh doanh và đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan có thẩm quyền theo đúng quy định về đăng ký kinh doanh.
Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, nhìn chung các Toà án khi xem xét thụ lý đều đồng thời dựa vào các dấu hiệu đặc trưng trên của HDKT để xác định HĐKT, không chi dựa vào quy định ở Điều | Pháp lệnh HDKT. Theo các tiêu chí này, Toa kinh tế sẽ không đúng về thẩm quyền khi thụ lý và giải quyết theo thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế các tranh chấp không phải là HDKT; ví dụ: giải quyết trên cơ sở hoá đơn; giải quyết dựa vào hợp đồng do pháp nhân ký với cá nhân không có đăng ký kinh doanh; giải quyết dựa vào giao dịch không tuân theo quy định tại Điều 11 Pháp lệnh HĐKT, như dựa trên giấy chứng nhận bảo hiểm trong khi bên mua bảo hiểm bằng miệng{ 109]. Bên cạnh cơ cấu chủ thể phổ biến trên, Điều 42 Pháp lệnh cũng quy định: Các quy định của pháp lệnh này có thể được áp dụng trong việc ký kết và thực hiện HDKT giữa các pháp nhân với người làm công tác khoa học - kỹ thuật, nghệ nhân, hộ kinh tế gia đình, hộ nông dân, ngư dân cá thể; theo Điều 43: các quy định của Pháp lệnh này được áp dụng trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng giữa pháp nhân Việt nam với các tổ chức cá nhân nước ngoài tại Việt nam. Theo các quy định này, trong một số trường hợp người làm công tác khoa học-kỹ thuật, nghệ nhân, hộ kinh tế gia đình, hộ nông dân, ngư dân cá thể, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt nam là một bên chủ thể của HDKT, còn phía bên kia bắt buộc phải là pháp nhân.
Trong thực tế hiện nay có nhiều loại pháp nhân: pháp nhân Việt nam, pháp nhân nước ngoài. Căn cứ theo Điều 43 của Pháp lệnh HDKT có thể hiểu: để hợp đồng là HĐKT thì một bên bắt buộc phải là pháp nhân Việt nam, trong trường hợp HDKT được ký kết thực hiện với tổ chức các nhân nước ngoài tại Việt nam. Cách hiểu này phù hợp với tinh than Điều 87 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh té[18]. Theo Điều 87 các quy định của pháp lệnh này cũng được áp dụng đối với các tranh chấp kinh tế tại Việt nam, nếu một bên là cá nhân, pháp nhân nước ngoài, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà XHCN Việt nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
Như vậy, theo các quy định hiện hành thì trường hợp hợp đồng có mục đích sản xuất kinh doanh giữa các bên đều là cá nhân nước ngoài, đều là pháp nhân nước ngoài hoặc giữa một bên là pháp nhân nước ngoài với một bên là cá nhân nước ngoài thì không phải là HDKT.2 Khái niệm HĐKT trong tính thống nhất của hệ thống pháp luật Việt nam về hợp đồng Nghiên cứu khái niệm HĐKT trong tính thống nhất và yêu cầu đổi mới của pháp luật Việt nam hiện nay sẽ không toàn điện nếu không tính đến thực trạng: các quan hệ tài sản trong đời sống xã hội (trong sản xuất, phân phối lưu thông, tiêu dùng, dịch vụ xã hội) được điều chỉnh bằng các quy phạm của luật dân sự, luật kinh tế và luật thương mại.