Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ BẢO VỆ LAO ĐỘNG NỮ 1. Khái niệm lao động nữ và bảo vệ lao động nữ 1. Khái niệm và đặc điểm của lao động nữ * Khái niệm lao động nữ Theo cách hiểu thông thƣờng NLĐ là danh từ chung dùng để nói đến những ngƣời làm công ăn lƣơng bằng sức lao động hoặc trí óc làm ra các sản phẩm vật chất hoặc về tinh thần cho ngƣời khác. Trong đó, quan hệ “làm công ăn lƣơng” là quan hệ giữa một bên là ngƣời có nhu cầu thuê mƣớn, sử dụng và trả công lao động với một bên là ngƣời có khả năng lao động, có nhu cầu bán sức lao động để nhận về một khoản tiền gọi là tiền lƣơng.
Quan hệ này đƣợc xác lập trên cơ sở HĐLĐ và trong đó có sự phụ thuộc về mặt pháp lý của NLĐ vào NSDLĐ. Theo quan điểm của Mác: “Ngƣời lao động là ngƣời sử dụng tƣ liệu sản xuất của chính mình hoặc của ngƣời khác một cách hợp pháp để sản xuất ra sản phẩm có giá trị sử dụng” [17, tr. Tại Khoản b Điều 3 Công ƣớc số 155 Công ƣớc về An toàn lao động, vệ sinh lao động và môi trƣờng làm việc (1981) quy định: “ngƣời lao động” bao gồm tất cả những ngƣời đang đƣợc sử dụng, kể cả công chức. Theo nghĩa rộng ngƣời lao động bao gồm tất cả những ngƣời thuộc giới lao động trong xã hội; theo nghĩa hẹp ngƣời lao động gồm những ngƣời làm công cho các doanh nghiệp, cơ quan tổ chức, cá nhân gia đình trên cơ sở hợp đồng lao động.
Luật lao động của Việt Nam và hầu hết các nƣớc khác thƣờng sử dụng thuật ngữ “ngƣời lao động” để chỉ những đối tƣợng thuộc phạm vi này. Nếu sử dụng thuật ngữ “ngƣời lao động” theo nghĩa rộng thì những đối tƣợng theo nghĩa hẹp thƣờng đƣợc gọi cụ thể là “ngƣời làm công” hay “lao động làm công, “lao động hợp đồng”. Trong phạm vi luật lao động thuật ngữ NLĐ chủ yếu đƣợc sử dụng theo nghĩa hẹp [22, tr. Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì: “Giới tính” là những 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đặc điểm sinh học và sinh lý nhằm xác định một cá thể là nam hay nữ.
Trong khi đó “Giới” lại là phạm trù đề cập đến vai trò, hành vi, hoạt động và các thuộc tính do xã hội quy định và gán ghép cho nam, nữ. Hiểu theo Công ƣớc số 111 về phân biệt đối xử việc làm và nghề nghiệp (1958) thì giới tính không mang ý nghĩa phụ nữ hay giới tính sinh học mà đƣợc hiểu là đặc điểm vị trí vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội tức là chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội. Giới là khái niệm về mối quan hệ xã hội- văn hóa giữa nam và nữ, là cách để xã hội chia con ngƣời thành các phạm trù, các loại và chỉ định cho mỗi loại một kiểu hành vi riêng, những trách nhiệm và quyền lợi riêng. Sự phân công lao động theo giới là sự phân chia công việc giữa nam và nữ [18, tr.
Tuy có sự khác biệt sinh học giữa nam và nữ nhƣng những khác biệt về vị trí vai trò của phụ nữ và nam giới trong gia đình, xã hội cũng do xã hội tạo nên, do đó có thể thay đổi đƣợc. Thông thƣờng nhắc tới giới tính chúng ta hiểu là chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ. Các đặc điểm giới tính chủ yếu gắn với quá trình tái sản xuất ra con ngƣời, nhất là các đặc điểm của hệ thống sinh sản của nam và nữ. Đặc điểm sinh học của nam và nữ khó thay đổi do chúng là sản phẩm của quá trình di truyền, tiến hóa sinh học lâu dài.
Nhƣ vậy, lao động nữ được hiểu là người lao động có những đặc điểm riêng biệt so với lao động nam về tâm sinh lý và thể lực, mang những đặc trưng riêng về giới khi tham gia quan hệ lao động. * Đặc điểm của lao động nữ Thứ nhất, Về thể lực và tâm sinh lý của lao động nữ: Lao động nữ có thời kỳ phát triển thể chất, tinh thần, thời kỳ lão hoá khác biệt so với lao động nam; nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí cũng khác. Một là khác biệt về cấu trúc cơ thể: tính trung bình, phụ nữ có dáng vóc nhỏ hơn, nhẹ cân hơn và thấp hơn nam giới. Đặc điểm này do giới tính thực tế quyết định.
Do đó, cần có những quy định, chính sách và hành động hợp lý về trang thiết bị, đồ dùng cá nhân sử dụng trong công việc; xác định năng suất lao động phù hợp; khuyến khích sự chia sẻ hài hòa và thiện chí của nam giới để tránh nguy cơ phụ nữ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com buộc phải gồng mình bảo đảm chuẩn sức khỏe thể lực theo chuẩn của nam giới để hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao; tăng cơ hội duy trì độ dẻo dai, khả năng bền vững hợp lý về thể lực thực tế để đáp ứng đòi hỏi công việc ngày càng cao của cơ quan, đơn vị. Đồng thời, thông qua đó không làm xuất hiện hiện tƣợng buông xuôi về tâm lý, tự ti về thái độ và mâu thuẫn về hành vi của phụ nữ nhằm không tạo ra cơ hội để một bộ phận nam giới ngộ nhận về vị trí, vai trò của mình quan trọng hơn phụ nữ trong cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Hai là khác biệt về khả năng tƣ duy và thực hiện công việc: do cấu tạo tự nhiên của não, phụ nữ có khả năng phát triển ngôn ngữ, tƣ duy trực tiếp, tỉ mỉ tốt hơn tƣ duy trừu tƣợng nên họ thƣờng tham gia và phát huy lợi thế tốt trong các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học xã hội nhân văn, báo chí, thông tin, chế biến, ngân hàng. nhiều hơn lĩnh vực khoa học tự nhiên, an ninh, quốc phòng, vận tải, khai thác mỏ, xây dựng và kiến trúc.
Ba là khác biệt về chức năng sinh sản: khi phụ nữ thực hiện thiên chức ngƣời mẹ, thể lực của họ thay đổi do sự thay đổi nội tiết tố diễn ra tự nhiên bên trong cơ thể. Đồng thời, quá trình lão hóa tự nhiên theo chu kỳ của chức năng sinh sản cũng ảnh hƣởng sâu sắc đến sức khỏe thể lực và tinh thần của họ. Điều này không diễn ra ở nam giới. Khi nam giới thực hiện thiên chức ngƣời cha, mọi vấn đề liên quan đến thể lực của họ không bị suy giảm, thậm chí còn có thể tốt hơn nếu họ biết tận dụng thời gian thƣờng xuyên luyện tập thể dục, thể thao và sinh hoạt cá nhân hợp lý.
Do sự khác biệt này, lao động nữ có sự gián đoạn thời gian làm việc thực tế (lao động nữ có thời kỳ mang thai, sinh đẻ, nuôi con, kinh nguyệt hàng tháng, chăm sóc khi con nhỏ ốm đau…) khoảng từ 5-10 năm; đây là thời kỳ sung sức nhất, dẫn tới thƣờng tụt hậu về nghiệp vụ, trình độ, chuyên môn so với lao động nam. Thứ hai, Lao động nữ có vị thế kinh tế xã hội kém hơn so với lao động nam, đặc biệt là ở những quốc gia phƣơng Đông nhƣ Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam. Điều này bị chi phối sâu sắc bởi ý thức hệ trọng nam khinh nữ đã có từ ngàn đời nay của các quốc gia này. Phụ nữ có vị trí yếu thế, thiệt thòi hơn trong xã hội, họ mất đi các quyền tham gia, quyền quyết định các vấn đề liên quan đến bản thân, con 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cái và gia đình của họ; cơ hội học tập, phát triển và thụ hƣởng vật chất bị hạn chế làm cho phụ nữ thiếu các điều kiện cần thiết để phát triển.
Thứ ba, Lao động nữ có ít cơ hội để làm việc và cơ hội thăng tiến của lao động nữ cũng thấp hơn rất nhiều so với lao động nam: lao động nữ luôn phải chịu vị trí thấp, yếu thế hơn trong xã hội, lao động thời gian dài hơn với những công việc giản đơn hơn và thu nhập thấp hơn. Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) ngày 19/11/2015 công bố báo cáo thƣờng niên lần thứ 10 về bình đẳng giới, mức lƣơng trung bình hiện tại của nữ giới chỉ tƣơng đƣơng với mức lƣơng của nam giới cách đây gần một thập kỷ. Cụ thể, mức lƣơng trung bình năm của nữ giới là 11.102 USD, ít hơn gần một nửa so với mức 20.554 USD nam giới đƣợc hƣởng. Mức lƣơng này chỉ tƣơng đƣơng thu nhập trung bình của nam giới năm 2006 (11.
Báo cáo này cũng nêu nhận định rằng ngay cả ở những nơi mà các chính sách chính trị và thƣơng mại đang đƣợc cải tiến thì rất nhiều NSDLĐ vẫn bố trí ngày làm việc và trả lƣơng cho NLĐ với quan niệm phụ nữ có trách nhiệm chăm lo cho gia đình còn đàn ông giữ vai trò trụ cột trong công việc. Thứ tư, Lao động nữ ngoài công việc mà họ đang tham gia với tư cách là người lao động thuần tuý còn phải thực hiện những thiên chức của người phụ nữ trong gia đình. Lao động nữ nhiều gánh nặng công việc gia đình hơn lao động nam. Ngoài thời gian lao động có thu nhập nhƣ nam giới, lao động nữ còn dành trung bình 4 giờ cho công việc phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của các thành viên gia đình (cao gấp đôi nam giới).
Quỹ thời gian còn lại 4 giờ của phụ nữ tập trung chủ yếu vào buổi tối, chịu ảnh hƣởng và chi phối bởi nhiều công việc liên quan khác nên thực tế họ rất ít thời gian chăm sóc sức khỏe và tinh thần để tái tạo sức lao động. Việc theo dõi và cập nhật thông tin từ các phƣơng tiện thông tin đại chúng của họ cũng bị hạn chế. Khi gia đình có ngƣời thân đau ốm, lao động nữ là ngƣời chăm sóc chính nên thực tế thời gian làm việc cũng bị gián đoạn. Sau khi sử dụng hết số ngày phép theo quy định, đa số lao động nữ xin nghỉ không hƣởng lƣơng nếu không thuê đƣợc 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngƣời chăm sóc thay thế hoặc tự mình muốn chăm sóc ngƣời thân.
Thời gian gián đoạn thực tế tùy thuộc vào từng trƣờng hợp cụ thể và việc quyết định nghỉ nhiều hay ít của chính lao động nữ, nhƣng dù chỉ nghỉ một vài ngày cũng có những thua thiệt nhất định so với lao động nam trong cùng cơ quan, đơn vị về cơ hội và sự hƣởng thụ thành quả thực tế.