đặt vấn đề nhằm tìm ra định nghĩa về CĐTS trong CTNY. Cụ thể, nếu xem một chủ thể sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành là cổ đông lớn thì liệu rằng có thể xem các chủ thể sở hữu ít hơn 5% là CĐTS hay không. Lý giải vấn đề này cũng vấp nhiều tranh luận, có quan điểm cho rằng, chúng ta nên chấp nhận cổ đông nhỏ là cổ đông sở hữu tỷ lệ vốn góp dưới 5% tổng số cổ phần của CTCP mà cổ đông là thành viên.12 Tuy nhiên, tác giả khác lại cho rằng, nhận định CĐTS là những cổ đông nắm giữ dưới 5% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết là sai, bởi lẽ, những quy định về cổ đông nắm trên 5% nói trên liên quan đến vấn đề quản trị công ty (công bố thông tin) và những cổ đông thuộc tỷ lệ này (và những người liên quan của họ) chịu sự điều chỉnh chặt hơn bởi pháp luật chứng khoán, do các giao dịch của họ có thể gây nên những biến động đối với công ty và thị trường13. Tác giả cũng cho rằng, nếu chỉ dựa vào con số 5% tỷ lệ cổ phần có quyền biểu quyết mà không cân nhắc đến các yếu tố khác để nhận diện CĐTS là điều không hợp lý bởi nếu xét về mặt quy mô vốn thì CTNY cũng có sự phân hóa 10 Vào thời điểm năm 2000, Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội đã được duyệt cấp 100 triệu đồng để vận động doanh nghiệp niêm yết.
Hoàng Ly, “HNX từng tạo hàng bằng ngân sách ngoài luồng” https://kinhdoanh.net/tin-tuc/chung-khoan/hnx-tung-tao-hang-bang-ngan-sach-ngoai-luong- 2706273.html, truy cập ngày 12/7/2017. 11 “Những con số đáng chú ý của thị trường chứng khoán Việt Nam sau 15 năm”, http://www.vn/VN/Tin-tuc/Trong-nuoc/Thi-truong/2015/01/3BA0F919_nhung-con-so-dang-chu-y- cua-TTCK-viet-nam-sau-gan-15-nam/, truy cập ngày 12/7/2017. 12 “Quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông của cổ đông nhỏ công ty cổ phần”, https://phamlaw.com/quyen-du- hop-dai-hoi-co-dong-cua-co-dong-nho-cong-ty-co-phan-hien-nay.html, truy cập 19/10/2017. 13 Theo ĐTCK, “CĐTS là ai, được ai bảo vệ?”, http://baodautu.vn/co-dong-thieu-so-la-ai-duoc-ai-bao-ve- d3908.
10 về quy mô vốn và tỷ lệ sở hữu cổ phần tùy thuộc việc công ty đại chúng niêm yết chứng khoán trên Sở giao dịch cụ thể nào. Theo nghiên cứu của tác giả, pháp luật công ty ở một số nước cũng không đưa ra định nghĩa về CĐTS mà chỉ phân định các quyền của cổ đông tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần như pháp luật Việt Nam hiện nay. Chẳng hạn, Luật Công ty Trung Quốc năm 2005 ấn định tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông theo các mốc 10%, 3%, 1% để làm cơ sở phân nhóm cổ đông. Theo đó, cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 3% cổ phần có quyền biểu quyết sẽ có quyền kiến nghị vấn đề đưa vào Chương trình họp ĐHĐCĐ14; cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 10% cổ phần có quyền biểu quyết trở lên được đề nghị triệu tập họp ĐHĐCĐ bất thường15, đề nghị triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ16,… Hay Luật Công ty Nhật Bản cũng có các quy định tương tự khi phân 3 nhóm cổ đông với với mức độ quyền lực khác nhau, cụ thể: i) Cổ đông sở hữu ít nhất một cổ phần trong thời hạn ít nhất 6 tháng liên tục; ii) Cổ đông sở hữu ít nhất 1% cổ phần có quyền biểu quyết tại công ty liên tục trong thời hạn 6 tháng; iii) Cổ đông sở hữu ít nhất 3% tổng số phiếu biểu quyết của công ty liên tục trong thời hạn 6 tháng.17 Cùng với đó, khi tiếp tục nghiên cứu quy định của pháp luật công ty ở các nước này, tác giả cũng không tìm thấy định nghĩa về CĐTS trong CTNY.
Qua các phân tích trên, tác giả cho rằng khi xét đến khái niệm CĐTS trong CTNY, chúng ta cũng rất khó để đưa ra một định nghĩa chuẩn xác áp dụng cho tất cả các CTNY. Bởi lẽ, dù CTNY có quy mô lớn, số lượng cổ đông đông đảo và cổ phần có sự phân tán mạnh nhưng những yếu tố này ở tất cả các CTNY lại không như nhau. Và vì thế, chúng ta cũng không thể đưa là một định lượng cụ thể nào để nhận diện họ có phải là CĐTS hay không. Kể cả trong trường hợp đưa ra một định lượng cụ thể đi chăng nữa thì bản thân số lượng cổ phần cũng không thể xác định 14 Article 102 The Companny Law, 3rd revision, Chinese Standing Committee of the National People’s Congress (2005) tại website: http://www.html#_Toc381707448, truy cập ngày 12/5/2018.
15 Article 100 The Companny Law, 3rd revision, Chinese Standing Committee of the National People’s Congress (2005) tại website: http://www.html#_Toc381707448, truy cập ngày 12/5/2018. 16 Article 110 The Companny Law, 3rd revision, Chinese Standing Committee of the National People’s Congress (2005) tại website: http://www.html#_Toc381707448, truy cập ngày 12/5/2018. 17 Companies Act No.86 of 2005 tại website: http://www.jp/law/detail/?vm=04&re=02&lvm=02&id=2455, truy cập ngày 12/5/2018. 11 được vị trí của cổ đông là CĐTS hay cổ đông đa số nếu không tính đến khả năng kiểm soát công ty.18 Do đó, đối với CTNY, tác giả cho rằng CĐTS cũng chỉ có thể nhận diện tương tự qua 2 tiêu chí dùng để nhận diện CĐTS trong CTCP như đã phân tích ở trên.
Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn này, cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết là cổ đông sở hữu ít cổ phần trong mối tương quan với các cổ đông khác và họ không có khả năng chi phối đến các quyết định của công ty. Đặc điểm của “cổ đông thiểu số” trong công ty niêm yết Những phân tích về khái niệm CĐTS ở trên cho thấy, CĐTS dù ở CTCP hay CTNY đều giống nhau ở sự yếu thế trước các cổ đông lớn về khả năng tác động đến các hoạt động của công ty do nắm giữ quá ít số lượng cổ phần có quyền biểu quyết. Tuy nhiên, khác với CĐTS trong CTCP thông thường, CĐTS trong CTNY do chịu sự ảnh hưởng và bị chi phối bởi tính đặc thù của CTNY nên sẽ có một số các đặc trưng khác với CĐTS trong CTCP thông thường, cụ thể: Một là, cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết có số lượng lớn CTNY là những công ty có chứng khoán được niêm yết trên các Sở giao dịch chứng khoán. Theo đó, niêm yết chứng khoán là việc đưa chứng khoán có đủ điều kiện vào giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán.19 Bằng việc niêm yết chứng khoán, các tổ chức phát hành có nhiều thuận lợi hơn về khả năng huy động vốn và khả năng mở rộng thị trường.20 Do đó, để được niêm yết chứng khoán trên các Sở giao dịch chứng khoán, tổ chức phát hành phải đáp ứng một số điều kiện khắt khe hơn các công ty chưa niêm yết21, trong đó có điều kiện về số lượng cổ đông của công ty.
Quy định này là một trong những nguyên nhân dẫn đến số lượng CĐTS trong CTNY lớn hơn rất nhiều lần so với các công ty chưa niêm yết. Theo đó, nếu CTCP thông thường chỉ cần số lượng cổ đông tối thiểu là 3 cổ đông22 thì số lượng này trong CTNY sẽ lớn hơn rất nhiều lần tùy thuộc vào điều 18 Nguyễn Hoàng Thùy Trang (2008), Bảo vệ CĐTS trong CTCP – So sánh giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật Vương quốc Anh, Luận văn Thạc sĩ Luật học, ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh, tr12. 19 Khoản 17 Điều 4 Luật Chứng khoán (Luật số 70/2006/QH11) ngày 29/6/2006.
20 “Lên sàn lợi nhiều hơn hại”, Tạp chí Tài chính điện tử, http://tapchitaichinh.vn/kinh-te-vi-mo/len-san-loi- nhieu-hon-hai-55155.html, truy cập ngày 12/5/2018. 21 Khoản 1 Điều 40 Luật Chứng khoán quy định: “Tổ chức phát hành khi niêm yết chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán phải đáp ứng các điều kiện về vốn, hoạt động kinh doanh và khả năng tài chính, số cổ đông hoặc số người sở hữu chứng khoán.” 22 Khoản 1 Điều 119 Luật Doanh nghiệp (Luật số 68/2014/QH13) ngày 24/11/2014. 12 kiện niêm yết của từng Sở giao dịch chứng khoán. Cụ thể, để được niêm yết chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội, các tổ chức phát hành phải có hơn 100 cổ đông không phải là cổ đông lớn nắm giữ 15% cổ phiếu có quyền biểu quyết trong công ty.
Còn tại Sở giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh – Sở giao dịch dành cho các doanh nghiệp có quy mô vốn lớn23 thì các tổ chức phát hành muốn niêm yết buộc phải có hơn 300 cổ đông không phải là cổ đông lớn nắm giữ ít nhất 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết trong công ty.24 Điều này có nghĩa rằng, các CTNY tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và Sở giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh lần lượt có hơn 100 và hơn 300 cổ đông nắm giữ ít hơn 5% cổ phần có quyền biểu quyết của công ty. Tại một số nước trên thế giới, số lượng cổ đông của công ty cũng là yêu cầu bắt buộc để được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán ở các nước này.
Cụ thể: Tại Sở giao dịch chứng khoán Singapore (SGX), để được niêm yết, công ty niêm yết phải đạt 25% cổ phần do 500 người đầu tư nắm giữ25; tại thị trường Đài Loan, cổ phần phổ thông phải do ít nhất 15.000 cổ đông cá nhân sở hữu.000 cổ đông nắm giữ từ 1.000 cổ phần phải trên 20% cổ phần đang lưu hành26,…Như vậy, số lượng CĐTS lớn không chỉ là đặc thù của CTNY ở Việt Nam mà các CTNY nước ngoài cũng có đặc điểm tương tự. Việc pháp luật quy định điều kiện về số lượng cổ đông của các CTNY phần nào buộc các doanh nghiệp này phải có chiến lược kinh doanh hiệu quả, minh bạch thông tin để tạo được niềm tin và thu hút được cổ đông trước khi được niêm yết trên sàn. Tại Việt Nam hiện nay, các CTNY có số lượng cổ đông lớn thường là những doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh hiệu quả, doanh thu lớn và quản trị công ty tốt, điển hình nhất là các Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietcombank) với hơn 1.220 cổ đông27, CTCP Đầu tư Thế giới di động là 9.248 cổ đông28,…Đây 23 Điều 52 Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 7 năm 2012 quy định chi tiết thi hành Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán. 24 Điều 52, Điều 53 Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 7 năm 2012 quy định chi tiết thi hành Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán.
25 “Điều kiện niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Singapore”, http://rulebook.com/en/display/display_viewall.html?rbid=3271&element_id=4830, truy cập ngày 15/1/2018. 26 “Thị trường chứng quyền trên thế giới – Ngược dòng lịch sử (bài 2), website Ủy ban Chứng khoán nhà nước”,http://www.vn, truy cập ngày 23/1/2018. 27 Theo “Biên bản Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2018 của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam” được công bố trên website: http://investor.vn/Sites/QuoteVN/SiteRoot/Copy%20of%20Bien%20ban%20DHDCD%20TN%2 02018.pdf, truy cập ngày 25/5/2018.