Chương 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ BÍ MẬT THÔNG TIN CÁ NHÂN 1. Các vấn đề lý luận về quyền được bảo vệ thông tin cá nhân 1. Khái niệm thông tin cá nhân, quyền được bảo vệ bí mật thông tin cá nhân Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ thông tin đƣợc hiểu là “tin tức về các sự kiện diễn ra trong thế giới xung quanh” [24, tr. Theo nguyên tắc thứ nhất của bộ nguyên tắc Luật tự do thông tin của tổ chức Article XIX về công khai thông tin thì thông tin bao gồm tất cả các tài liệu, không phân biệt hình thức và cách thức đƣợc lƣu trữ (văn bản, băng, bản ghi âm điện tử.
Nhƣ vậy, thông tin là những tin tức đã đƣợc định dạng dƣới hình thức lƣu trữ nhất định. Từ cách hiểu nêu trên, có thể hiểu thông tin cá nhân là mọi thông tin liên quan đến một cá nhân đƣợc định dạng dƣới dạng văn bản, tệp tin, mã hóa, âm thanh, hình ảnh… Một thông tin đƣợc coi là liên quan đến một cá nhân nếu thông qua thông tin đó có thể xác định đƣợc một cá nhân cụ thể. Theo đó, có thể phân loại thành các thông tin trực tiếp xác định một cá nhân nhƣ họ tên, căn cƣớc công dân, hộ chiếu. và các thông tin gián tiếp, ví dụ nhƣ tên viết tắt, ngày tháng năm sinh, nơi sinh, số thẻ bảo hiểm y tế….
Ngoài ra, các thông tin mang tính chất định vị về không gian và thời gian cũng có thể đƣợc coi là các dữ liệu gián tiếp xác định một thể nhân (ví dụ: địa chỉ nơi ở, nơi làm việc, dữ liệu định vị ở smartphone, ngày trải qua các kỳ thi, ngày vào bệnh viện…) [3, tr. Trong bối cảnh sự phát triển bùng nổ của khoa học công nghệ, trong đó có công nghệ thông tin, việc các cá nhân tham gia vào đời sống công nghệ và 8 z lƣu trữ thông tin cá nhân của mình bằng các dữ liệu tin học ngày càng trở nên phổ biến. Hằng ngày chúng ta vẫn sử dụng các giao dịch trực tuyến, thƣơng mại điện tử, ngân hàng điện tử. Khi sử dụng các dịch vụ trên mạng này, ngƣời sử dụng sẽ phải kê khai các thông tin cá nhân nhƣ: Tên, ngày sinh, địa chỉ liên hệ, số điện thoại hay số chứng minh nhân dân.
Những thông tin này gắn với việc xác định rõ ràng danh tính, nhân thân của một con ngƣời cụ thể, nhằm phân biệt ngƣời này với ngƣời khác. Ngày càng có nhiều thông tin cá nhân của ngƣời sử dụng đƣợc lƣu trữ ở trên mạng. Các dữ liệu thông tin trên môi trƣờng mạng có ý nghĩa quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, thậm chí trở thành tài sản có giá trị đặc biệt của mỗi cá nhân. Các doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại và phát triển nếu các thông tin hoặc hệ thống thông tin bị đánh cắp hay bị phá hoại.
Cải cách hành chính, chính phủ điện tử, thƣơng mại điện tử và hàng loạt chƣơng trình lớn của quốc gia sẽ không thể thực hiện đƣợc nếu an toàn thông tin không đƣợc đảm bảo. Một cá nhân cũng sẽ bị thiệt hại nếu các thông tin cá nhân bị đánh cắp, bị làm sai lệch. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, “bí mật” đƣợc hiểu là điều cần giữ kín trong phạm vi một số ít người, không để lộ cho người ngoài biết [24, tr. Nhƣ vậy, bí mật thông tin cá nhân là những thông tin, dữ liệu của một cá nhân mà ngƣời đó không mong muốn cho nhiều ngƣời biết, hoặc việc cung cấp công khai các thông tin này có thể ảnh hƣởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đó.
Đối với các thông tin đã đƣơc công bố công khai một cách hợp pháp, có chủ ý thì thông tin đó không đƣợc coi là bí mật thông tin cá nhân và không đƣợc pháp luật bảo vệ nếu những thông tin này đƣợc ngƣời khác sử dụng, ví dụ: thông tin cá nhân đã đăng tải công khai trên mạng xã hội. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: Mọi ngƣời có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tƣ, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự , uy tín 9 z của mình. Thông tin về đời sống riêng tƣ, bí mật cá nhân, bí mật gia đình đƣợc pháp luâ ̣t bảo đảm an toàn (Điều 21). Công ƣớc về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 khẳng định: Không ai bị can thiệp một cách tuỳ tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tƣ, gia đình, nhà ở, thƣ tín, hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín.
Mọi ngƣời đều có quyền đƣợc pháp luật bảo vệ chống lại những can thiệp hoặc xâm phạm nhƣ vậy (Điều 17). Nhƣ vậy, có thể thấy quyền đƣợc bảo vệ bí mật thông tin cá nhân là một phần của quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tƣ đã đƣợc khẳng định tại Công ƣớc ICCPR và Hiến pháp năm 2013. Theo đó: Quyền được bảo vệ bí mật thông tin cá nhân là một quyền con người nằm trong nội hàm của quyền được bảo vệ bí mật đời tư được ghi nhận trong luật nhân quyền quốc tế và hiến pháp, pháp luật của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Quyền này cho phép các cá nhân được quyết định đối với thông tin cá nhân của mình, không bị công bố thông tin cá nhân nếu không có lý do chính đáng, được áp dụng các biện pháp hợp pháp, bao gồm yêu cầu các cơ quan nhà nước và các chủ thể khác có liên quan phải thực thi nghĩa vụ tương ứng của họ, để ngăn ngừa, khắc phục, đền bù tổn thất và xử lý những hành vi vi phạm bí mật thông tin cá nhân của mình.
Đặc điểm của quyền được bảo vệ bí mật thông tin cá nhân Thông tin cá nhân gắn với nhân thân của một ngƣời. Cơ quan nhà nƣớc hay chủ thể khác có thể nắm giữ thông tin cá nhân của một ngƣời nhằm thực hiện một quyền/nghĩa vụ của cá nhân đó theo thỏa thuận. Điều này không đồng nghĩa với việc Nhà nƣớc hay chủ thể khác có quyền sử dụng, định đoạt, lƣu chuyển… thông tin cá nhân của một ngƣời trái với ý muốn của ngƣời đó. Theo nhận thức chung, nội hàm của quyền đƣợc bảo vệ bí mật thông tin cá nhân bao gồm: 10 z (i) Quyền đƣợc yêu cầu chỉnh sửa thông tin cá nhân nhằm bảo đảm tính toàn vẹn, chính xác của thông tin.
Theo đó, cá nhân có quyền yêu cầu chủ thể nắm giữ thông tin sửa chữa thông tin cá nhân của mình để bảo đảm tính chính xác của thông tin. (ii) Quyền cho phép bên thứ ba tiếp cận thông tin cá nhân của mình. (iii) Quyền yêu cầu Nhà nƣớc hoặc chủ thể khác có liên quan có các biện pháp bảo đảm tính bí mật của thông tin, ví dụ: vô danh hóa thông tin cá nhân,… (iv) Quyền đòi bồi thƣờng thiệt hại khi có hành vi xâm phạm thông tin cá nhân trái pháp luật. Khi có hành vi xử lý thông tin cá nhân trái pháp luật, gây thiệt hại cho cá nhân thì cá nhân có quyền yêu cầu chủ thể nắm giữ thông tin bồi thƣờng thiệt hại do hành vi trái pháp luật đó gây ra.
Quyền đƣợc bảo vệ bí mật thông tin cá nhân không phải là một quyền tuyệt đối, có nghĩa là trong những trƣờng hợp nhất định, chủ thể nắm giữ thông tin có quyền tiết lộ bí mật dữ liệu cá nhân, khai thác dữ liệu bí mật cá nhân trái với ý muốn của cá nhân đó. Mặc dù pháp luật quốc tế chƣa quy định cụ thể các trƣờng hợp hạn chế quyền đƣợc bảo vệ bí mật thông tin cá nhân nhƣng Điều 17 Công ƣớc ICCPR đã khẳng định các trƣờng hợp hạn chế quyền này phải đƣợc pháp luật quốc gia quy định, và ngay cả trong các trƣờng hợp đƣợc pháp luật quy định thì việc hạn chế quyền này cũng phải bảo đảm tính hợp lý. Tƣơng tự nhƣ các quyền có giới hạn khác, quyền đƣợc bảo vệ bí mật thông tin cá nhân bị giới hạn bởi quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời khác; an ninh quốc gia; trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội. Trong những trƣờng hợp này, chủ thể nắm giữ thông tin cá nhân có thể xử lý thông tin cá nhân của ngƣời khác mà không cần có sự đồng ý của ngƣời đó.
Quyền đƣợc bảo vệ thông tin cá nhân là quyền gắn với nhân thân mỗi ngƣời, cá biệt hóa chủ thể mang quyền. Bởi vậy, quyền này mang đầy đủ đặc điểm của một quyền nhân thân, cụ thể: 11 z - Quyền đƣợc bảo vệ bí mật thông tin cá nhân đƣợc công nhận đối với mọi cá nhân một cách bình đẳng và suốt đời, không dịch chuyển đƣợc sang chủ thể khác. Có quan điểm cho rằng có sự khác biệt giữa quyền đƣợc bảo vệ thông tin cá nhân của những ngƣời nổi tiếng so với những ngƣời khác trong xã hội, hay nói cách khác đối với ngƣời nổi tiếng, ngƣời của công chúng thì đƣợc bảo vệ bí mật thông tin cá nhân của họ sẽ bị hạn chế hơn. Bởi lẽ, họ đã là ngƣời của công chúng thì phải chấp nhận việc thông tin cá nhân của họ đƣợc mọi ngƣời quan tâm, thậm chí là soi xét và đƣợc đƣa tới công chúng thông qua các hình thức khác nhau, trong đó có báo chí [23, tr.
Tuy nhiên, tác giả cho rằng quyền đƣợc bảo vệ bí mật thông tin cá nhân là bình đẳng giữa các cá nhân, đều là quyền bất khả xâm phạm. Điều này xuất phát từ quy định của Hiến pháp về quyền bình đẳng trƣớc pháp luật của công dân. - Quyền đƣợc bảo vệ bí mật thông tin cá nhân là quyền đƣợc bảo hộ vô thời hạn. Khi chủ thể không còn nữa thì những ngƣời có liên quan đƣợc quyền yêu cầu bảo vệ khi có hành vi xâm phạm.
Ví dụ: nếu có ngƣời công bố thông tin cá nhân của ngƣời đã khuất một cách sai sự thực thì những ngƣời thân thích của ngƣời đó vẫn có quyền yêu cầu cải chính thông tin và bồi thƣờng thiệt hại. Tuy nhiên, cần thấy rằng về vấn đề này vẫn còn ý kiến khác nhau ở Việt Nam. Về nguyên tắc, các thông tin cá nhân mà khi còn sống ngƣời đó không muốn tiết lộ (vì lý do hết sức riêng tƣ) thì sau khi ngƣời đó qua đời những ngƣời thân thích cũng không đƣợc quyền công bố. Điều này thể hiện sự tôn trọng đối với cá nhân đã khuất [14].