CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỔN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm “Văn hoá các dân tộc thiểu số” Văn hóa ở nghĩa hẹp, là sự phản ánh những hoạt động tinh thần (từ quan niệm tư tưởng và giá trị, ý thức về giá trị, định hướng giá trị.) của con người cùng các giá trị mà hoạt động đó tạo ra. Ởnghĩa rộng, văn hóa là tổng hòa mọi sản phẩm của đời sống vật chất và tinh thần do con người sáng tạo nên, cùng với việc sử dụng công cụ tư duy, tư tưởng, phương thức biểu đạt, mô hình hành động và phương thức, thái độ ứng xử của cộng đồng dân tộc trong việc chế ngự thiên nhiên và tổ chức xã hội, hình thành nhân cách con người.
Nói cách khác, văn hóa là tất cả những gì không phải từ thiên nhiên, mà là từ hoạt động con người, là tất cả những gì con người sáng tạo nên nhằm phục vụ đời sống cộng đồng và phát triển xã hội. Văn hóa là sự hoạt động nhận thức của con người và cách thức tổ chức hành động thực tiễn đối với môi trường xung quanh nhằm cải biến tự nhiên và phát triển xã hội. Với ý nghĩa đó, văn hóa theo Hồ Chí Minh, đó là: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hoá"[15;tr.Mayor, Cựu Tổng giám đốc UNESCO đã định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống giá trị, các truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định các đặc tính riêng của mỗi dân tộc”[32]. Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của các cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng tạo nên những giá trị vừa có tính nhân văn phổ quát, vừa có tính đặc thù - bản sắc riêng mỗi cộng đồng dân tộc (nhấn mạnh việc giữ gìn tính đa dạng của văn hóa); đồng thời khuyến cáo nguy cơ tổn thương của các nền văn hóa trong làn sóng toàn cầu hóa, vì hệ lụy của cách thức phát triển kinh tế không tôn trọng yếu tố văn hóa.
Ngày 3/11/2002, Đại hội đồng UNESCO đã ra tuyên bố toàn cầu về Đa dạng văn hoá: "Văn hoá nên được xem là một tập hợp các điểm nổi bật về mặt tinh thần và vật chất, tri thức và tình cảm của một xã hội hay một nhóm xã hội, và ngoài văn chương và nghệ thuật thì văn hoá còn bao gồm lối sống, cách thức cùng chung sống, thế hệ các giá trị, truyền thống và tín ngưỡng". Theo giới nghiên cứu văn hoá, nhận định này là phù hợp với quan điểm cách tiếp cận của Hồ Chí Minh vào năm 1943 về phạm vi rộng lớn của văn hoá. Như vậy, văn hóa tác động vào các cấp độ, các quá trình, đó là: cải tạo vật chất; cải tạo cơ cấu xã hội; và cải tạo tâm lý con người, tâm lý xã hội. Từ cơ sở nêu trên, có thể hiểu: Văn hóa là sản phẩm của xã hội loài người được tạo ra trong quá trình lao động sản xuất, là tổng thể hệ thống những chuẩn mực, giá trị cùng với ý thức và khả năng sáng tạo mang ý nghĩa lịch sử - xã hội của cộng đồng người nhất định để thỏa mãn nhu cầu cuộc sống nhằm thích ứng sự tồn tại và phát triển.
Trong văn hóa gồm có văn hóa vật chất (văn hóa vật thể) và văn hóa tinh thần (văn hóa phi vật thể). 12 Với văn hóa vật chất, đó là các sản phẩm vật chất do con người tạo ra, là dạng thức văn hóa vật thể hữu hình nhằm phục vụ nhu cầu vật chất của con người. Chẳng hạn như: công cụ lao động, sản xuất; kiến trúc nhà ở; trang phục; ẩm thực. Với văn hóa tinh thần, đó là các sản phẩm tinh thần do con người tạo ra, là dạng thức văn hóa phi vật thể nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người.
Chẳng hạn như: ngôn ngữ; kho tang tri thức dân gian; phong tục tập quán; lối tư duy, suy nghĩ, hành vi ứng xử; tôn giáo; lễ hội; văn chương, hội họa, âm nhạc, vũ điệu… Đối với thuật ngữ dân tộc thường được hiểu theo hai nghĩa: Ở nghĩa rộng, dân tộc (nation) là hình thái phát triển cao nhất của tộc người, xuất hiện trong xã hội TBCN và XHCN. Dân tộc đặc trưng bởi tính cộng đồng chặt chẽ và bền vững về kinh tế, ngôn ngữ, lãnh thổ, các đặc điểm về văn hóa và ý thức tự giác tộc người. Ở nghĩa hẹp, dân tộc (ethnie) được hiểu là dùng để chỉ những tộc người, là hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi 3 đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử. Chẳng hạn là các tộc người: Kinh, Tày, Thái, Nùng,.
với tư cách là những cộng đồng dân tộc anh em tự nguyện gắn kết nhau lại thành cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất trong sự nghiệp dựng nước và cứu nước. Với nghiên cứu của đề tài luận văn tiếp cận dân tộc chủ yếu ở nghĩa hẹp. Dân tộc thiểu số là khái niệm dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ về Công tác dân tộc). 13 Từ một số ý nghĩa trên: Văn hóa dân tộc được hiểu là hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, được tích luỹ trong hoạt động thực tiễn lịch sử của cộng đồng dân tộc nhất định, nó mang ýnghĩa lịch sử - xã hội và thể hiện bản sắc của cộng đồng dân tộc đó để thỏa mãn nhu cầu cuộc sống nhằm thích ứng sự tồn tại và phát triển.
Trong văn hóa dân tộc cũng gồm có văn hóa vật chất (văn hóa vật thể) và văn hóa tinh thần (văn hóa phi vật thể) của cộng đồng dân tộc. Song về bản sắc của nó, văn hóa dân tộc chẳng những là sự thể hiện ở tinh thần, bản lĩnh, cốt cách và linh hồn của một dân tộc, mà nó còn thể hiện ở đặc trưng riêng có của một dân tộc này là dấu hiệu để phân biệt so với một dân tộc khác. Hay nói cách khác, mỗi dân tộc đều có đường nét bản sắc văn hóa độc đáo, tạo nên cách thức để hiện thực hóa thế giới quan và nhân sinh quan của cộng đồng dân tộc trong thực tiễn đời sống xã hội. nét bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện qua các đặc trưng về lối sống, tư duy, lý tưởng thẩm mỹ… Như vậy, có thể xem văn hóa dân tộc là tổng thể các tính cách, các phẩm chất đặc trưng thuộc sức mạnh tiềm tàng và sự sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử, mà qua đó giúp cho cộng đồng dân tộc đó tồn tại, duy trì và phát triển.
Với ý nghĩa đó, văn hóa dân tộc là yếu tố mang đậm sức mạnh tinh thần dân tộc, là chỗ dựa giúp cho cộng đồng dân tộc đó vượt qua những khó khăn và hiểm nguy, những thử thách và trở ngại trong tiến trình lịch sử xã hội vì dân tộc hòa bình và phát triển. Đối với nước ta, hiện nay có 54 thành phần dân tộc (54 tộc người). Trong đó, 87% là dân tộc Kinh (chiếm đa số); và 13% thuộc về 53 dân tộc còn lại được gọi là các dân tộc thiểu số. Tuy quy mô dân số của 53 dân tộc thiểu số ở nước ta có số lượng không lớn, song cùng với quá trình lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển đã kiểm định: mỗi một tộc người đều có phong văn hóa truyền thống với bảng 14 giá trị cốt lõi mang tính bản sắc được hình thành ổn định, bền vững theo chiều dài lịch sử gắn với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể về lịch sử tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội của riêng mình.
Với nền tảng đó mà tạo nên diện mạo văn hóa các dân tộc, trong đó có văn hóa các dân tộc thiểu số. Ởnước ta với một nền văn hóa thống nhất mà đa dạng, thì văn hóa các dân tộc thiểu số: vừa có các đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam tiêu biểu, với “tinh thần cần cù, lao động sáng tạo, có lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tính cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng - nước, có tinh thần đoàn kết, có lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý, tế nhị trong ứng xử, giản dị trong lối sống…”; vừa có các đặc trưng mang sắc thái văn hóa riêng, độc đáo do đặc thù về điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử của mỗi dân tộc thiểu số. Chính quá trình lịch sử hình thành, phát triển trên các mặt đời sống của từng tộc người là cơ sở khẳng định sự tồn tại và xác định vị trí của thành phần dân tộc đó trong một lãnh thổ quốc gia. Văn hóa các dân tộc thiểu số đã tạo nên diện mạo đặc trưng tính đa dạng văn hóa vùng miền, thể hiện sự đa dạng phong phú nền văn hóa của quốc gia.
Như vậy, có thể hiểu: Văn hóa các dân tộc thiểu số là hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, được tích luỹ trong hoạt động thực tiễn lịch sử nhất định của cộng đồng các dân tộc thiểu số (các tộc người), nó mang ý nghĩa lịch sử - xã hội và thể hiện bản sắc riêng có của các dân tộc thiểu số để thỏa mãn nhu cầu cuộc sống nhằm thích ứng sự tồn tại và phát triển, góp phần làm phong phú và đa dạng nền văn hóa của cả cộng đồng dân tộc quốc gia.