Chương 1. Cơ sở lý luận về bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa gắn với phát triển du lịch và khái quát về địa bàn nghiên cứu 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Các khái niệm chính và liên quan trong đề tài 1.
Văn hóa Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách sống động toàn bộ cuộc sống con người trong suốt quá trình lịch sử. Văn hóa tạo nên một hệ thống các giá trị truyền thống bao gồm thẩm mĩ và lối sống, từ đó từng dân tộc xây dựng nên bản sắc riêng của mình. Văn hóa là tất cả những gì con người đã bỏ công sức để tạo ra; nó khác với những gì tồn tại trong tự nhiên ngoài con người. Một trong những người đưa ra khái niệm văn hoá sớm nhất là E.
Taylo (Năm 1871), ông đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội (E. Tylor, “Văn hóa nguyên thủy, (Huyền Giang dịch từ tiếng Nga)”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội. Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một; nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật. Trong Bách khoa toàn thư Pháp: “Văn hoá theo nghĩa rộng là tập tục, tín ngưỡng, ngôn ngữ, tư tưởng, thị hiếu thẩm mỹ… những hiểu biết kỹ thuật cũng như toàn bộ việc tổ chức môi trường của con người… những công cụ, nhà ở… và nói chung là toàn bộ công nghiệp có thể truyền lại được, điều tiết những quan hệ và những ứng xử của một nhóm xã hội với môi trường sinh thái của nó…” [Dẫn theo Lê Anh Tuấn (2002), 30].
Boas định nghĩa “Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tinh thần tập thể vừa có tinh thần cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau”. Định nghĩa này đề cao vai trò của mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và môi trường trong việc hình thành văn hóa của con người [6]. Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Về nghĩa rộng, “Văn hóa là một phức hệ - tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm.
khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm 7 làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội. Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng. Về nghĩa hẹp, “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng. Ở Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh (1943) đã đưa ra quan niệm về văn hoá như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra được nguồn gốc động lực và cấu trúc của văn hoá. Nhà văn hoá học Phan Ngọc định nghĩa: “Văn hoá là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hoá theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng.
Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hoá dưới hình thức dễ thống nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của các cá nhân hay các tộc người khác” [29]. Nhà văn hóa học Trần Ngọc Thêm, định nghĩa: “Văn hoá là hệ thống hữu cơ các giá trị tinh thần và vật chất do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [34]. Như vậy có thể thấy tuy có nhiều định nghĩa về văn hóa nhưng hầu như tất cả đều đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống. Với những cách hiểu này thì văn hóa chính là nấc thang đưa con người vượt lên trên những loài động vật khác; và văn hóa là sản phẩm do con người tạo ra trong quá trình lao động nhằm mục đích sinh tồn.
Trong luận văn này, chúng tôi đồng tình và sử dụng định nghĩa văn hóa học của Trần Ngọc Thêm. Bản sắc văn hóa Bản sắc văn hóa hay bản thể văn hóa là bản thể hay cảm giác thuộc về một nhóm nào đó. Nó là một phần của khái niệm về bản thân và nhận thức về bản thân của một người, có liên quan đến quốc tịch, sắc tộc, tôn giáo, giai cấp xã hội, thế hệ, địa phương 8 hay bất cứ loại nhóm xã hội nào có văn hóa riêng biệt. Bản sắc văn hóa đặc trưng cho cả cá nhân và nhóm đồng nhất về văn hóa với các thành viên có chung bản sắc văn hóa.
Trong luận văn này, chúng tôi cho rằng, bản sắc văn hóa là những gì thuộc về bản chất, đặc trưng nhất của một nền văn hóa mà qua đó ta có thể phân biệt được với những nền văn hóa khác. Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó. Bảo tồn là giữ lại, không để mất đi, không để bị thay đổi, biến hóa. Theo Từ điển tiếng Việt, Phát huy là “làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm”.
Phát huy là hành động nhằm đưa văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, coi đó như nguồn nội lực, các tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện mục tiêu của văn hóa đối với phát triển xã hội. Phát huy văn hóa là làm cho những giá trị văn hóa, nghệ thuật truyền thống lan tỏa trong cộng đồng xã hội, có ý nghĩa xã hội tích cực. Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa luôn gắn kết chặt chẽ biện chứng. Đó là hai lĩnh vực thống nhất, tương hỗ, chi phối ảnh hưởng qua lại trong hoạt động giữ gìn tài sản văn hóa.
Bảo tồn di sản văn hóa thành công thì mới phát huy được các giá trị văn hóa. Phát huy cũng là một cách bảo tồn di sản văn hóa tốt nhất (lưu giữ giá trị di sản trong ý thức cộng đồng xã hội). Tộc người Theo nghĩa hẹp, tộc người là một cộng đồng người có chung tiếng mẹ đẻ. Theo nghĩa đó, tộc người là tập hợp những người có đặc điểm khá thuần nhất, cùng chung sống trên một địa bàn cư trú và có chung các đặc điểm văn hóa mà rõ nét nhất là ngôn ngữ.
Theo nghĩa rộng, tộc người là một cộng đồng người liên kết với nhau bởi một phức hợp các tính chất chung về các mặt: nhân chủng, ngôn ngữ, chính trị… Sự kết hợp mang các tính chất chung đó hình thành một hệ thống riêng, một cấu trúc mang tính văn hóa chủ yếu – một nền văn hóa riêng biệt. Phan Hữu Dật, ông xác định: thuật ngữ dân tộc trong Dân tộc học cần được hiểu, đó là tộc người, tiếng Hy Lạp là ethnos, ethnie. Và đưa ra khái niệm: tộc người là cộng đồng người hình thành trong lịch sử, trên một lãnh thổ nhất định, cùng có chung những đặc điểm tương đối bền vững về ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý, ý 9 thức sự thống nhất của mình và làm cho mình khác với các tộc người khác, thông qua tên tự gọi [52]. Như vậy, tộc người là một cộng đồng người hình thành trên cùng một lịch sử, trong một không gian nhất định và có những đặc điểm chung như ngôn ngữ, văn hóa, ý thức tộc người… 1.
Loại hình du lịch văn hóa tộc người Du lịch văn hoá tộc người là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống. Du lịch văn hóa tộc người chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng. để tạo sức hút đối với khách du lịch nội địa và quốc tế. Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa tộc người là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ.
Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa tộc người gắn liền với địa phương - nơi lưu giữ nhiều lễ hội văn hóa đặc sắc của tộc người. Mối quan hệ giữa bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa và hoạt động du lịch Theo Điều 4 Luật Du lịch, “Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định”. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên văn hóa (bảo tàng, di tích, lễ hội, phong tục tập quán. Du lịch có quan hệ mật thiết với văn hóa, với giá trị văn hóa đến mức người ta đưa ra khái niệm mới là du lịch văn hóa.
Xét về bản chất, du lịch văn hóa là hình thức trải nghiệm văn hóa mà nền tảng là các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể. Các giá trị văn hóa có thể đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí của con người. Do đó, giá trị văn hóa dân tộc là tài nguyên vô giá cho phát triển du lịch, làm tăng lượng điểm đến và sức hấp dẫn của điểm đến du lịch [38].