Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam Chương 2: Thực tiễn thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Hrê ở tỉnh Quảng Ngãi Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Hrê tỉnh Quảng Ngãi 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA VIỆT NAM 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Giá trị văn hóa Trước hết, giá trị cũng như tập quán, chuẩn mực, tri thức. đều là sản phẩm của quá trình tư duy, sản xuất tinh thần của con người, nó là yếu tố cốt lõi nhất của văn hoá.
Giá trị, giá trị văn hoá là một hình thái của đời sống tinh thần, nó phản ánh và kết tinh đời sống văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của con người. Giá trị là phạm trù riêng có của loài người, liên quan đến lợi ích vật chất cũng như tinh thần của con người. Bản chất và ý nghĩa bao quát của giá trị là tính nhân văn. Chức năng cơ bản nhất của giá trị là định hướng, đánh giá và điều chỉnh các hoạt động của cá nhân và cộng đồng.
Giá trị gắn liền với nhu cầu con người. Nhu cầu của con người rất phong phú, đa dạng và được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Chính nhu cầu là động cơ thúc đẩy mạnh mẽ hành động của con người, giúp con người tạo nên những giá trị vật chất và tinh thần. Còn về văn hóa, có rất nhiều khái niệm khác nhau.
Cuốn sách Cơ sở Văn hóa Việt Nam (Trần Quốc Vượng chủ biên) có trích dẫn định nghĩa của UNESCO như sau: Văn hóa là tổng thể những nét đặc thù về tinh thần và vật chất, về trí tuệ và xúc cảm quy định tính cách của một xã hội hay của một nhóm xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của (tồn tại - being) người, những hệ thống giá trị, 10 những truyền thống và tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét (Reflect - phản tư) về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt - con người, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý.
Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm kiếm không mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt qua cả giới hạn của bản thân [35; tr. Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều định nghĩa cho khái niệm văn hóa được đề xuất. Ngay từ đầu thập niên 40 của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định nghĩa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [17; tr. Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, văn hóa được hiểu bao hàm toàn bộ những sản phẩm vật chất và tinh thần được sáng tạo ra bởi con người, nhằm đáp ứng đòi hỏi của sự sinh tồn và mục đích cuộc sống của con người - được sống xứng đáng với danh hiệu và vị thế của con người. Trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta xác định văn hoá - tư tưởng là một cuộc cách mạng, tiến hành đồng thời gắn bó chặt chẽ với cách mạng quan hệ sản xuất và cách mạng khoa học kỹ thuật. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và bổ sung, phát 11 triển năm 2011 đều xác định nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, do vậy, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là sự hòa hợp hữu cơ bản sắc văn hóa của 54 dân tộc anh em. Trong nền văn hóa đa dân tộc của đất nước, mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng của mình. Những bản sắc văn hóa riêng đó ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hóa Việt Nam thống nhất và củng cố sự thống nhất quốc gia dân tộc. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của tất cả các dân tộc anh em sẽ phát huy sức sáng tạo phong phú, sức mạnh tổng hợp của các cộng đồng dân tộc trên đất nước ta, tạo nên sự phong phú, đa dạng trong tính thống nhất của nền văn hóa Việt Nam, củng cố sự thống nhất dân tộc, đồng thời tạo cơ sở để thực hiện bình đẳng dân tộc ở nước ta.
Chủ trương của Đảng ta về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa riêng của các dân tộc, trên đất nước ta là nhất quán: “Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa làm cho thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước” [5; tr. Giá trị văn hóa còn được gọi là “vốn văn hóa” với các đặc điểm tiêu biểu là: 1- Giá trị văn hóa có khả năng bổ sung làm gia tăng giá trị kinh tế của một sản phẩm văn hóa với tư cách là loại “hàng hóa đặc thù”; 2- Giá trị văn hóa góp phần xây dựng nhân cách, điều chỉnh hành vi cá nhân làm cho nguồn nhân lực xã hội có chất lượng trí tuệ cao hơn, đóng góp thiết thực cho sự phát triển kinh tế - xã hội; 3- Vốn văn hóa là một bộ phận cấu thành môi trường xã hội lành mạnh - yếu tố không thể thiếu trong phát triển bền vững; 4- Một sản phẩm có hàm lượng văn hóa, trí tuệ càng cao thì giá trị hàng hóa/giá thương phẩm càng tăng. 12 Trong những năm qua, các giá trị văn hóa ở nước ta, nhất là các giá trị văn hóa truyền thống, luôn được chú trọng bảo tồn và phát huy.
Dù trải qua hơn 2 năm bị ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid-19 trên toàn cầu, công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vẫn đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận. Trong 6 tháng đầu năm 2021, cả nước có 23 di tích cấp quốc gia được xếp hạng, ghi danh 31 di sản văn hóa phi vật thể vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia [1]1. Công tác bảo tồn, giữ gìn và phát huy các phong tục, tập quán tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số được đẩy mạnh thông qua việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta luôn coi trọng vị trí, vai trò của văn hóa, khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh cho sự phát triển.
Hiện nay, trước những thách thức đặt ra của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, càng phải chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc vì sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Giá trị văn hóa truyền thống Từ điển Tiếng Việt đã đưa ra khái niệm về truyền thống như sau: Truyền thống là “thói quen hình thành đã lâu đời trong đời sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác” [20; tr. Theo tác giả Ngô Đức Thịnh, truyền thống là những cái gì đã hình thành từ lâu đời, mang tính bền vững và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Truyền thống không chỉ xã hội tiền công nghiệp mới có mà với cả xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa truyền thống vẫn hình thành và định hình.
Hơn thế, còn có sự kết nối giữa truyền thống tiền công nghiệp với truyền thống công nghiệp hóa thể hiện trong từng hiện tượng hay giá trị văn hóa [24; tr. 1 Tính đến nay đã có 395 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. 13 Theo chúng tôi, truyền thống là những sự vật, hiện tượng, nội dung được lưu truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác trong một khoảng thời gian dài trở thành những thói quen, phong tục tập quán, có giá trị về nhân văn, nhân bản và có tính trường tồn. Truyền thống mang ý nghĩa tích cực, mang tính nhân bản, nhân văn sâu sắc.
Truyền thống được nói đến là những truyền thống về văn hóa, y tế, giáo dục, chính trị và tư tưởng. Truyền thống không nói đến những yếu tố tiêu cực hình thành thói quen xấu. Những yếu tố, giá trị truyền thống được bảo tồn, gìn giữ và được trân trọng. Trong quá trình hình thành và phát triển mình, mỗi dân tộc đều sáng tạo ra nền văn hóa, trong đó có các giá trị văn hóa.
Các giá trị văn hóa này được lưu truyền trong xã hội qua các thời kỳ lịch sử và trở thành các giá trị văn hóa truyền thống. Giá trị văn hóa truyền thống chính là những tư tưởng, biểu tượng, giá trị và chuẩn mực xã hội hóa, những tác phẩm văn hóa được cộng đồng tin tưởng và mong muốn gìn giữ, truyền đạt và noi theo. Nói đến những giá trị văn hóa truyền thống là nói đến những giá trị tốt đẹp, tiêu biểu cho một nền văn hóa được chắt lọc, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Do đó, nói đến những giá trị văn hóa truyền thống cũng là nói đến những giá trị văn hóa được hình thành và phát triển trong quá trình dựng nước và giữ nước của mỗi dân tộc, nó có tính “di truyền xã hội”.
Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc không phải là cái có sẵn từ khi dân tộc hình thành mà nó được các thế hệ nối tiếp nhau làm nên.