Tổng quan nghiên cứu

Dân tộc Hrê tại tỉnh Quảng Ngãi có quy mô dân số đạt 149.460 người theo kết quả điều tra dân số, chiếm khoảng 90% tổng số người Hrê trên cả nước và chiếm gần 10% dân số toàn tỉnh. Đồng bào cư trú lâu đời tại các thung lũng miền núi phía Tây, tạo dựng nên một kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng đặc sắc như kiến trúc nhà sàn truyền thống, nghệ thuật trình diễn chiêng ba, các làn điệu dân ca ka-choi, ka-lêu và nghề dệt thổ cẩm. Tuy nhiên, trước tác động sâu rộng của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế giai đoạn 2010 - 2020, không gian sinh hoạt văn hóa truyền thống của người Hrê đang đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng, nhiều phong tục tập quán và nhạc cụ độc đáo dần biến mất trong giới trẻ.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học xác định mục tiêu tổng quát là đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Hrê tại tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2010 đến năm 2020, chỉ rõ những kết quả đạt được, hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân cốt lõi. Phạm vi nghiên cứu tập trung khảo sát chuyên sâu tại 2 địa bàn trọng điểm là huyện Ba Tơ và huyện Sơn Hà, kết hợp khảo sát thực địa tại các huyện Minh Long và Trà Bồng. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống luận cứ khoa học tin cậy giúp các cơ quan quản lý nhà nước hoàn thiện thể chế chính sách, nâng cao hiệu quả bảo tồn hơn 900 bộ chiêng ba, hỗ trợ thiết thực cho đời sống tinh thần của trên 140.000 đồng bào và tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận về chính sách công và chu trình thực thi chính sách trong hệ thống quản lý nhà nước. Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển bền vững dựa trên nguồn vốn văn hóa (Cultural Capital) và lý thuyết tiếp biến văn hóa (Acculturation) để phân tích sự chuyển dịch của các giá trị truyền thống trong đời sống đương đại. Khung khái niệm trọng tâm bao gồm: giá trị văn hóa, bản sắc văn hóa tộc người, bảo tồn văn hóa vật thể và phi vật thể, cùng mối quan hệ biện chứng giữa bảo tồn di sản với phát triển kinh tế xã hội.

Hệ thống quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước được quán triệt sâu sắc xuyên suốt đề tài, nổi bật là Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nghị quyết số 33-NQ/TW Hội nghị Trung ương 9 khóa XI, và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Cơ sở pháp lý thực thi dựa trên Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Nghị định số 98/2010/NĐ-CP, Quyết định số 1270/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020 và Quyết định số 124/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu kết hợp hài hòa giữa tài liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực địa. Nguồn thứ cấp bao gồm hơn 50 văn kiện, nghị quyết, báo cáo thống kê và quyết định quy hoạch của Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2010 - 2020 (tiêu biểu như Kế hoạch số 5052/KH-UBND, Quyết định số 1163/QĐ-UBND và Quyết định số 609/QĐ-BVHTTDL).

Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu khảo sát trên cỡ mẫu gồm 120 đối tượng đại diện, bao gồm 20 cán bộ quản lý văn hóa cấp tỉnh, huyện, xã; 30 già làng, nghệ nhân ưu tú; và 70 người dân thuộc cộng đồng người Hrê tại 4 xã trọng điểm thuộc 2 huyện Ba Tơ và Sơn Hà. Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích (purposive sampling) kết hợp chọn mẫu quả cầu tuyết (snowball sampling) được áp dụng nhằm tiếp cận chính xác các chủ thể nắm giữ di sản văn hóa và cán bộ trực tiếp thực thi chính sách. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp phân tích chu trình chính sách 7 bước là nhằm bóc tách toàn diện các khâu từ hoạch định, triển khai, phân công phối hợp đến đánh giá hiệu lực của chính sách trong điều kiện thực tiễn đặc thù của vùng miền núi Quảng Ngãi trong suốt 10 năm nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở được đầu tư đồng bộ và đạt tỷ lệ bao phủ ấn tượng. Tính đến cuối năm 2020, toàn tỉnh Quảng Ngãi đã có 95,5% số thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số được xây dựng nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Đề án khôi phục nhà làng truyền thống tại 2 huyện Ba Tơ và Sơn Hà đã giúp khoảng 70% số thôn khôi phục thành công không gian nhà sàn đặc trưng, với mức hỗ trợ trực tiếp từ 70 đến 100 triệu đồng mỗi nhà từ nguồn ngân sách tỉnh và chương trình mục tiêu quốc gia, kết hợp nguồn vốn xã hội hóa hàng trăm triệu đồng từ địa phương.

Thứ hai, công tác kiểm kê và vinh danh di sản văn hóa phi vật thể đạt được bước đột phá lớn. Riêng trên địa bàn huyện Ba Tơ, các cơ quan chức năng đã thống kê được 890 hộ gia đình còn lưu giữ trên 900 bộ chiêng ba cùng 740 người biết sử dụng thành thạo loại nhạc cụ này. Nghệ thuật trình diễn chiêng ba của người Hrê huyện Ba Tơ đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chính thức công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 609/QĐ-BVHTTDL ngày 03/02/2021. Đồng thời, nghề dệt thổ cẩm truyền thống tại thôn Làng Teng (xã Ba Thành) cũng được ghi danh vào danh mục di sản quốc gia trong tổng số 288 di sản của cả nước.

Thứ ba, sự kết hợp giữa bảo tồn di sản và phát triển sinh kế du lịch cộng đồng bước đầu phát huy hiệu quả kinh tế rõ nét. Huyện Minh Long đã bố trí 2,5 tỷ đồng để xây dựng không gian văn hóa Hrê tại làng Thượng Đố (xã Thanh An), phục dựng kiến trúc nhà sàn và ruộng bậc thang. Tại huyện Sơn Hà, đội văn nghệ 24 thành viên của xã Sơn Bao được thành lập để biểu diễn nhạc cụ dân tộc và các điệu múa truyền thống phục vụ du khách tại khu du lịch hồ Nước Trong, tạo nguồn thu nhập trực tiếp cho đồng bào.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân dẫn đến những thành tựu nổi bật trên là nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp ủy đảng và việc triển khai nghiêm túc quy trình 7 bước thực hiện chính sách công. Đóng vai trò hạt nhân trong công tác trao truyền là những nghệ nhân cao tuổi tâm huyết như nghệ nhân 83 tuổi Phạm Văn Sự, nghệ nhân Đinh Văn Bôn (sở hữu bảo tàng tư nhân lưu giữ hơn 100 hiện vật quý) và nghệ nhân nữ Đinh Thị Đê.

Tuy nhiên, khi so sánh với các công trình nghiên cứu dân tộc học trước đây, luận văn chỉ ra rằng công tác bảo tồn vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn về thể chế. Việc phân bổ nguồn lực còn chậm, tiến độ giải phóng mặt bằng cho dự án Trung tâm Bảo tồn văn hóa Hrê tại thị trấn Di Lăng (huyện Sơn Hà) phải trải qua nhiều lần điều chỉnh qua các Quyết định số 764/QĐ-UBND năm 2017, số 949/QĐ-UBND năm 2018 và số 968/QĐ-UBND năm 2019. Lực lượng nghệ nhân am hiểu sâu sắc về nhạc cụ ống vinh-vút, đàn tà-vỗ hay các làn điệu cổ ngày càng già yếu (huyện Ba Tơ chỉ còn 2 nghệ nhân tiêu biểu), trong khi thế hệ trẻ chịu ảnh hưởng mạnh từ lối sống hiện đại.

Các kết quả nghiên cứu thực chứng này có thể được trình bày một cách trực quan thông qua biểu đồ hình cột thể hiện tỷ lệ 95,5% thôn có nhà sinh hoạt văn hóa, biểu đồ tròn phân bổ 149.460 nhân khẩu Hrê giữa các huyện (Sơn Hà chiếm 49,4%, Ba Tơ chiếm 36,7%, Minh Long chiếm 10,4%) và bảng ma trận đánh giá hiệu quả 7 bước thực thi chính sách tại các cấp chính quyền cơ sở.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế điều hành và bảo đảm nguồn lực tài chính bền vững. UBND tỉnh Quảng Ngãi cùng Sở Tài chính cần ưu tiên phân bổ gói ngân sách trung hạn tối thiểu 15 đến 20 tỷ đồng cho mỗi giai đoạn 5 năm (2021 - 2025 và 2026 - 2030) để hoàn thiện dứt điểm các hạng mục cơ sở hạ tầng, cảnh quan cây xanh và khu trưng bày của Trung tâm Bảo tồn văn hóa dân tộc Hrê tại thị trấn Di Lăng (huyện Sơn Hà) theo Quyết định số 1163/QĐ-UBND.

Thứ hai, chuẩn hóa và nâng cao năng lực thực thi chu trình chính sách 7 bước tại cơ sở. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì tổ chức từ 5 đến 10 lớp tập huấn nghiệp vụ chuyên sâu mỗi năm cho 100% cán bộ văn hóa cấp xã tại các huyện Ba Tơ, Sơn Hà, Minh Long và Trà Bồng; thiết lập cơ chế thanh tra, kiểm tra định kỳ 2 lần mỗi năm nhằm kịp thời tháo gỡ vướng mắc trong khâu triển khai đề án bảo tồn.

Thứ ba, triển khai chính sách tôn vinh, đãi ngộ và đẩy mạnh công tác trao truyền di sản. HĐND và UBND tỉnh cần ban hành nghị quyết chuyên đề quy định mức trợ cấp sinh hoạt hàng tháng cho 100% nghệ nhân ưu tú nắm giữ di sản văn hóa phi vật thể; chỉ đạo Phòng Văn hóa - Thông tin các huyện phối hợp cùng ngành Giáo dục mở tối thiểu 15 lớp truyền dạy cồng chiêng, hát dân ca và chế tác nhạc cụ mỗi năm, phấn đấu thu hút từ 300 đến 500 thanh thiếu niên tham gia thường xuyên.

Thứ tư, xây dựng chuỗi giá trị du lịch văn hóa cộng đồng gắn với nâng cao sinh kế. UBND các huyện miền núi đẩy mạnh hợp tác công tư, quy hoạch và xây dựng từ 3 đến 5 mô hình Làng văn hóa - du lịch đặc trưng tại các điểm có tiềm năng lớn như xã Sơn Bao, Ba Thành, Thanh An trước năm 2026, hướng tới mục tiêu tăng thu nhập bình quân của các hộ gia đình tham gia dệt thổ cẩm và dịch vụ du lịch lên 15% đến 20%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước: Lãnh đạo Ban Dân tộc, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi cùng UBND các huyện miền núi có thể khai thác khung đánh giá 7 bước và số liệu thực tế tại 2 huyện Ba Tơ và Sơn Hà để xây dựng chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2021 - 2030.

Thứ hai, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Chính trị học, Quản lý công, Văn hóa học: Luận văn cung cấp nguồn ngữ liệu học thuật chuẩn mực, hệ thống hóa hơn 50 văn bản pháp lý cùng phương pháp luận khảo sát điền dã kết hợp chọn mẫu 120 đối tượng đại diện tại cơ sở.

Thứ ba, các doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư phát triển du lịch bền vững: Khai thác bức tranh tiềm năng về hơn 900 bộ chiêng ba, làng dệt thổ cẩm Làng Teng và quần thể sinh thái hồ Nước Trong để thiết kế các tour trải nghiệm văn hóa bản địa độc đáo, mang lại giá trị gia tăng cao.

Thứ tư, giảng viên đại học và các nhà nghiên cứu dân tộc học: Sử dụng nguồn tư liệu phong phú về tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán và các loại nhạc cụ độc đáo của 149.460 người Hrê để làm giáo trình giảng dạy các chuyên đề văn hóa tộc người Nam Á và Môn - Khơ-me tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Điểm mới mang tính đột phá của luận văn này so với các công trình trước đây là gì?
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên tiếp cận toàn diện việc bảo tồn văn hóa người Hrê tại Quảng Ngãi dưới lăng kính chính trị học và quản trị công theo chu trình chính sách 7 bước, khắc phục hạn chế của các nghiên cứu trước năm 2010 vốn chỉ tập trung thuần túy vào miêu tả dân tộc học.

Quy mô dân số và địa bàn phân bố chính của người Hrê tại tỉnh Quảng Ngãi hiện nay như thế nào?
Theo số liệu thống kê năm 2019, người Hrê tại Quảng Ngãi có 149.460 người, chiếm gần 90% dân số Hrê toàn quốc. Đồng bào cư trú tập trung chủ yếu tại 3 huyện miền núi: Sơn Hà với 73.883 người, Ba Tơ với 54.852 người và Minh Long với 15.508 người.

Thành tựu tiêu biểu nhất trong thực hiện chính sách bảo tồn di sản phi vật thể của người Hrê là gì?
Thành tựu nổi bật nhất là Nghệ thuật trình diễn chiêng ba của người Hrê huyện Ba Tơ với hơn 900 bộ chiêng và 740 người diễn tấu đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 609/QĐ-BVHTTDL năm 2021.

Những rào cản lớn nhất trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách tại địa phương là gì?
Rào cản lớn nhất nằm ở việc bố trí nguồn vốn chưa kịp thời, các thủ tục bồi thường đất đai kéo dài qua nhiều giai đoạn từ năm 2016 đến 2019, cùng sự thiếu hụt nghiêm trọng nghệ nhân kế cận khi toàn huyện Ba Tơ chỉ còn 2 nghệ nhân nắm giữ kỹ thuật cổ.

Làm thế nào để gắn kết hài hòa giữa bảo tồn di sản văn hóa Hrê với phát triển kinh tế địa phương?
Giải pháp trọng tâm là xây dựng từ 3 đến 5 làng văn hóa du lịch cộng đồng tại các địa bàn trọng điểm như Sơn Bao và Làng Teng, kết hợp biểu diễn nghệ thuật chiêng ba, bán sản phẩm dệt thổ cẩm để nâng cao thu nhập cho đồng bào từ 15% đến 20%.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về chu trình 7 bước tổ chức thực thi chính sách công trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thiểu số tại Việt Nam.
  • Đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng bảo tồn văn hóa của 149.460 người Hrê tại Quảng Ngãi giai đoạn 2010 - 2020, ghi nhận thành tựu 95,5% thôn có nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
  • Khẳng định giá trị thực tiễn to lớn của 2 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia gồm Nghệ thuật trình diễn chiêng ba Ba Tơ và Nghề dệt thổ cẩm thôn Làng Teng.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược gắn liền với định mức đầu tư 15 đến 20 tỷ đồng mỗi giai đoạn 5 năm nhằm tháo gỡ điểm nghẽn về hạ tầng và cơ chế đãi ngộ nghệ nhân.
  • Xác định lộ trình hành động đến năm 2030 nhằm đưa các giá trị văn hóa Hrê trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng thúc đẩy kinh tế - xã hội miền núi tỉnh Quảng Ngãi phát triển toàn diện.

Đóng góp của luận văn là tiền đề khoa học quan trọng giúp chuyển hóa chủ trương của Đảng thành các chương trình hành động thiết thực. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và bạn đọc quan tâm hãy cùng tham khảo, ứng dụng các giải pháp của luận văn để chung tay bảo tồn, lan tỏa bản sắc văn hóa đặc sắc của dân tộc Hrê trong thời kỳ mới.