Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ tỉnh tuyên quang lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc tày từ năm 1991 đến năm 2012

Luận văn thạc sĩ phân tích vai trò của đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể dân tộc Tày giai đoạn 1991-2012.

Chuyên ngành

Lịch Sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2014

76
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

0.3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu

0.6. Đóng góp của luận văn

0.7. Bố cục của luận văn

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC TÀY VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA DÂN TỘC TÀY TUYÊN QUANG

1.1. Khái quát về dân tộc Tày Tuyên Quang

1.1.1. Dân số, nguồn gốc dân tộc Tày Tuyên Quang

1.2. Hoạt động kinh tế

1.2.1. Kinh tế nông nghiệp

1.3. Đời sống văn hóa xã hội

1.4. Hệ thống giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày Tuyên Quang

1.4.1. Tiếng nói, chữ viết

1.4.2. Diễn xướng dân gian

1.4.3. Lễ hội truyền thống

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG VỚI VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA DÂN TỘC TÀY

2.1. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

2.2. Quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày, từ năm 1991 đến năm 2012

2.2.1. Chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày, từ năm 1991 đến năm 2002

2.2.2. Chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày, từ năm 2002 đến năm 2012

2.2.3. Kết quả Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang thực hiện bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày (1991 – 2012)

2.3. Kết quả - ý nghĩa

2.4. Phương hướng và giải pháp phát triển văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày Tuyên Quang

2.4.1. Phương hướng phát triển văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày Tuyên Quang

2.4.2. Một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày Tuyên Quang

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về bảo tồn văn hóa phi vật thể dân tộc Tày tại Tuyên Quang

Bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày tại Tuyên Quang là một nhiệm vụ quan trọng trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Từ năm 1991 đến 2012, tỉnh Tuyên Quang đã có nhiều chính sách và hoạt động nhằm bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể như lễ hội, nghi lễ dân gian và nghệ thuật truyền thống. Những giá trị này không chỉ góp phần làm phong phú thêm di sản văn hóa của dân tộc Tày mà còn tạo ra sự kết nối giữa các thế hệ trong cộng đồng.

1.1. Di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày

Di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày bao gồm nhiều yếu tố như ngôn ngữ, âm nhạc, điệu múa, và các lễ hội truyền thống. Những yếu tố này không chỉ thể hiện bản sắc văn hóa mà còn là phương tiện truyền tải tri thức và giá trị sống của người Tày. Việc bảo tồn những giá trị này là cần thiết để duy trì bản sắc văn hóa trong bối cảnh hiện đại.

1.2. Vai trò của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong bảo tồn văn hóa

Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã đóng vai trò quan trọng trong việc lãnh đạo và chỉ đạo các hoạt động bảo tồn văn hóa phi vật thể. Các chính sách và chương trình được triển khai nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị văn hóa, đồng thời khuyến khích sự tham gia của người dân trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.

II. Những thách thức trong việc bảo tồn văn hóa phi vật thể dân tộc Tày

Mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc bảo tồn văn hóa phi vật thể, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Sự phát triển kinh tế, đô thị hóa và hội nhập quốc tế đã ảnh hưởng đến các giá trị văn hóa truyền thống. Nhiều phong tục tập quán đang dần bị mai một, và sự chuyển giao văn hóa giữa các thế hệ gặp khó khăn.

2.1. Ảnh hưởng của đô thị hóa đến văn hóa Tày

Đô thị hóa đã dẫn đến sự thay đổi trong lối sống và sinh hoạt của người Tày. Nhiều phong tục tập quán truyền thống không còn được thực hiện như trước, gây ra sự mất mát trong di sản văn hóa. Việc di cư đến thành phố cũng làm giảm sự gắn kết giữa các thế hệ trong cộng đồng.

2.2. Khó khăn trong việc truyền dạy văn hóa cho thế hệ trẻ

Thế hệ trẻ hiện nay thường ít quan tâm đến các giá trị văn hóa truyền thống. Việc thiếu các chương trình giáo dục và hoạt động thực tiễn để truyền dạy văn hóa phi vật thể cho thanh thiếu niên là một thách thức lớn. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực từ cả cộng đồng và chính quyền địa phương để khôi phục và duy trì các giá trị văn hóa.

III. Phương pháp bảo tồn văn hóa phi vật thể dân tộc Tày hiệu quả

Để bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày, cần áp dụng các phương pháp hiệu quả. Việc kết hợp giữa bảo tồn và phát triển là rất quan trọng. Các hoạt động như tổ chức lễ hội, hội thảo, và các lớp học truyền dạy văn hóa sẽ giúp nâng cao nhận thức và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng.

3.1. Tổ chức các lễ hội truyền thống

Các lễ hội truyền thống như lễ hội Lồng Tông không chỉ là dịp để người dân Tày thể hiện bản sắc văn hóa mà còn là cơ hội để thu hút du khách. Việc tổ chức các lễ hội này cần được chú trọng và đầu tư để đảm bảo tính bền vững và phát huy giá trị văn hóa.

3.2. Xây dựng chương trình giáo dục văn hóa

Chương trình giáo dục văn hóa cần được thiết kế để phù hợp với nhu cầu và sở thích của thế hệ trẻ. Việc đưa các giá trị văn hóa vào chương trình học tại các trường học sẽ giúp nâng cao nhận thức và tình yêu đối với văn hóa dân tộc Tày.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc bảo tồn văn hóa phi vật thể dân tộc Tày đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Các chính sách và chương trình đã được triển khai hiệu quả, góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị văn hóa. Tuy nhiên, cần tiếp tục cải thiện và phát triển các giải pháp để bảo tồn bền vững.

4.1. Thành tựu trong bảo tồn văn hóa phi vật thể

Nhiều giá trị văn hóa phi vật thể đã được bảo tồn và phát huy, như các điệu múa, nhạc cụ truyền thống và các lễ hội. Những thành tựu này không chỉ giúp duy trì bản sắc văn hóa mà còn tạo ra cơ hội phát triển kinh tế cho cộng đồng thông qua du lịch văn hóa.

4.2. Ứng dụng các giá trị văn hóa vào phát triển du lịch

Việc ứng dụng các giá trị văn hóa vào phát triển du lịch đã mang lại lợi ích kinh tế cho người dân. Du lịch văn hóa không chỉ giúp bảo tồn các giá trị văn hóa mà còn tạo ra nguồn thu nhập cho cộng đồng, góp phần nâng cao đời sống của người dân Tày.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể dân tộc Tày tại Tuyên Quang là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Trong tương lai, cần tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động bảo tồn, đồng thời kết hợp với phát triển kinh tế để tạo ra sự bền vững cho các giá trị văn hóa. Sự tham gia của cộng đồng và chính quyền địa phương là yếu tố quyết định cho thành công của công tác bảo tồn.

5.1. Định hướng phát triển văn hóa phi vật thể

Định hướng phát triển văn hóa phi vật thể cần được xây dựng dựa trên sự tham gia của cộng đồng. Các chương trình bảo tồn cần được thiết kế linh hoạt, phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng của người dân.

5.2. Tăng cường hợp tác giữa các bên liên quan

Việc tăng cường hợp tác giữa chính quyền, tổ chức xã hội và cộng đồng là rất quan trọng. Sự phối hợp này sẽ giúp tối ưu hóa các nguồn lực và nâng cao hiệu quả trong công tác bảo tồn văn hóa phi vật thể.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ tỉnh tuyên quang lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc tày từ năm 1991 đến năm 2012

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 2 chương 6 tiết. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC TÀY VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA DÂN TỘC TÀY TUYÊN QUANG 1. Khái quát về dân tộc Tày Tuyên Quang 1. Dân số, nguồn gốc dân tộc Tày Tuyên Quang Về hành chính, Tuyên Quang gồm có 1 thành phố và 6 huyện, đó là các huyện: Yên Sơn, Sơn Dương, Hàm Yên, Chiêm Hóa, Na Hang, Lâm Bình.

Địa bàn cư trú của người Tày rải rác ở các huyện, nhiều nhất là ở huyện Chiêm Hóa, Na Hang, Lâm Bình. Dân tộc Tày có số dân đông nhất trong các dân tộc thiểu số ở nước ta. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009: “Người Tày ở Việt Nam có dân số 1.392 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 2 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố. Người Tày cư trú tập trung tại các tỉnh: Lạng Sơn (259.532 người, chiếm 35,4% dân số toàn tỉnh và 31,5% tổng số người Tày tại Việt Nam), Cao Bằng (207.805 người, chiếm 41,0% dân số toàn tỉnh và 25,2% tổng số người Tày tại Việt Nam), Tuyên Quang (185.464 người, chiếm 25,6% dân số toàn tỉnh và 22,5% tổng số người Tày tại Việt Nam), Hà Giang (168.719 người, chiếm 23,3% dân số toàn tỉnh và 20,5% tổng số người Tày tại Việt Nam), Bắc Kạn (155.510 người, chiếm 52,9% dân số toàn tỉnh và 18,9% tổng số người Tày tại Việt Nam), Yên Bái (135.314 người, chiếm 18,3% dân số toàn tỉnh và 16,4% tổng số người Tày tại Việt Nam), Thái Nguyên (123.197 người, chiếm 11,0% dân số toàn tỉnh và 15,0% tổng số người Tày tại Việt Nam), Lào Cai (94.243 người), Đắk Lắk (51.

Tày là tên đồng bào tự gọi và ngày nay trở thành tên gọi chính thức của dân tộc thay cho tên gọi “Thổ” trước kia. “Thổ” theo nghĩa đen có nghĩa là thổ dân, người bản xứ. Dân tộc Tày còn có các tên gọi khác theo nhóm địa phương là Thổ (tên cũ), Ngạn do mặc áo ngắn hơn, Phén mặc áo màu nâu, Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, Pa Dí áo có thêu hoa văn ở cổ và vải vắt ngang ngực, ống tay được nối những đoạn vải màu, mũ hình mái nhà. Người Tày là cư dân định cư ở Việt Nam từ rất sớm, nhiều học giả và nhiều tài liệu đã khẳng định người Tày có mặt ở miền Bắc Việt Nam từ cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên.

Trong thư tịch cổ Trung 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quốc gọi các bộ lạc ở vùng phía Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam là Bách Việt. Bộ lạc Âu Việt của nhóm Tày – Nùng và bộ lạc Lạc Việt của nhóm Việt – Mường nằm trong Bách Việt, về sau liên minh với nhau thành Nhà nước Âu Lạc. Âu Lạc là tên chung lấy chữ đầu của Âu Việt và chữ đầu của Lạc Việt ghép thành. Như vậy, người Tày định cư rất sớm ở nước ta và còn là một trong những chủ nhân đầu tiên của nước Việt cổ.

Người Tày ở Tuyên Quang gồm người gốc Tày ở đây từ lâu đời, nhưng cũng có một bộ phận người được “Tày hóa” các dân tộc khác đến sống ở vùng người Tày với nhiều lý do khác nhau do được bổ nhiệm làm quan, là binh lính được điều lên đồn trú, lánh nạn do bị thất thế, do tha phương cầu thực … Họ đến ở, lấy vợ, lấy chồng người Tày chịu ảnh hưởng văn hóa Tày sâu sắc và trở thành người Tày. Ngoài ra, còn có người Tày ở các tỉnh lân cận di cư đến Tuyên Quang. Tại các huyện Chiêm Hóa, Na Hang, Lâm Bình, người Tày thường mang họ Hà, họ Quan, họ Quân, họ Nông. Theo tài liệu nghiên cứu về khảo cổ học, cách đây hàng vạn năm, Tuyên Quang đã có người cư trú.

Những vết tích về thời kỳ đồ đá tìm thấy ở Thúy Loa (Na Hang), Ngọc Hội (Chiêm Hóa), An Khang (Yên Sơn)… đã chứng minh điều đó. Qua tìm hiểu các gia phả để lại, dân tộc Tày có thể là dân tộc cư trú lâu đời nhất ở Tuyên Quang. Các dân tộc Cao Lan, Nùng, Hoa, Dao đến Tuyên Quang được khoảng vài ba trăm năm nay. Nhưng cũng có dân tộc mới đến Tuyên Quang được khoảng trên dưới 100 năm như: Sán Dìu, Sán Chí, Pà Thẻn… Theo số liệu thống kê, Tuyên Quang có trên 22 dân tộc anh em cùng sinh sống, chủ yếu là dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Chay, Sán Dìu, Hoa, HMông, bao gồm: Tổng số dân STT Dân tộc (Ngƣời) 1 Kinh 338.090 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.014 9 Các dân tộc khác 2.781 Nguồn: Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang năm 2010.

Người Tày, gọi cộng đồng cư trú của mình là bản, bản là đơn vị cư dân nhỏ nhất, là cộng đồng gắn kết các hộ gia đình với nhau, bản nhỏ dưới 10 hộ, bản trung bình từ 15 đến 20 hộ, bản lớn có khi 50 – 60 hộ. Các bản tập trung ở các địa hình khác nhau, có bản nhà này sát nhà kia, nhưng cũng có bản nhà ở theo cụm, theo hộ cách xa nhau. Người Tày định cư chủ yếu ở vùng thấp, đi lại thuận tiện, gần nguồn nước, gần đồng ruộng để tiện trồng trọt. Bản người Tày có nhiều cây ăn quả, cây bóng mát, cây lấy gỗ, lấy lá để lợp nhà.

Mỗi bản đều có trưởng bản, phụ nữ không làm trưởng bản do quan niệm phụ quyền đã sâu đậm trong đời sống đồng bào Tày. Người Tày đặt tên cho bản của mình rất giản dị họ thường lấy đặc điểm thửa ruộng, gốc cây to, khe suối … để đặt tên bản. Ví dụ bản Nà Đứa xã Thanh Tương (bản gần ruộng có cây sung), xã Đức Luân, bản Nà Diêm (bản gần ruộng có diêm sinh); xã Thượng Lâm, bản Nà Tông (bản cạnh cánh đồng), bản Chùa (bản gần chùa); xã Lăng Can, bản Khuổi Kịch (bản bên cạnh suối Kịch)… Nhiều vùng ở các huyện Hàm Yên, Yên Sơn, Sơn Dương đồng bào gọi cộng đồng cư trú của mình là làng. Ví dụ ở xã Hùng Lợi có làng Cóc, làng Nhà; xã Kim Quan có làng Hản; xã Tân Trào có làng Kim Long.

Hoạt động kinh tế 1. Kinh tế nông nghiệp Là người dân bản địa, người Tày quần cư và canh tác trên chính mảnh đất của mình. Hoạt động kinh tế nông nghiệp trồng trọt là chủ yếu. Người Tày có hai loại canh tác chính là làm nương rẫy và trồng lúa nước.

- Canh tác nương rẫy: Loại hình canh tác này hiện nay vẫn còn được duy trì do điều kiện tự nhiên và vùng đất định cư của người Tày liền kề với núi rừng, có nhiều mảnh đất màu mỡ, thuận lợi cho việc trồng lúa nương, ngô, khoai, sắn, bông, vừng, lạc… Không phải 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mất nhiều công chăm sóc mà các loại cây lương thực này vẫn đảm bảo năng suất cao nên trong nhiều năm đồng bào vẫn đốt nương rẫy để canh tác. Hạt giống thường được chọn từ vụ trước. Thóc giống về gặt bó thành cum, phơi khô để riêng trên gác bếp. Ngô giống chọn bắp hạt to đều, để cả vỏ, phơi khô, treo trên gác bếp để tránh mọt.

Các giống đậu chọn quả to, hạt chắc, phơi khô rồi cho vào quả bầu khô, đổ tro bếp lên trên, nút kín miệng bằng lá chuối khô. Người Tày khi tra lúa, ngô, đỗ và các loại hạt khác thì không cuốc hố mà dùng một cây thân gỗ vừa tay cầm, đầu vót nhọn dùng để chọc lỗ rồi bỏ hạt và lấp đất lại. Canh tác nương rẫy hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, hạn hán, mưa lũ, gió lốc thường xuyên xảy ra. Vì vậy, đời sống của đồng bào ngày càng bấp bênh, phương thức canh tác này ngày càng không phù hợp.

Ngày nay, đồng bào Tày hầu như không còn trồng lúa nương nữa, họ chuyển sang trồng các loại cây lương thực khác ở đồi thấp như: ngô, khoai, sắn, đỗ … phục vụ cho chăn nuôi. - Canh tác lúa nước: Những thửa ruộng bậc thang của người Tày là nét nhấn, tô điểm cho bức tranh vùng sơn cước, là dấu ấn khó phai trong tâm trí những ai đến đây dù chỉ một lần. Khi canh tác lúa nước, người Tày không tra hạt như lúa nương mà gieo mạ để cấy giống như người Kinh. Đất gieo mạ được làm rất kỹ, cày bừa bằng trâu.

Khi cày bừa xong, người ta bón phân chuồng lên ruộng, sau đó mới bừa cho mặt ruộng phẳng, láng nước. Thóc để làm giống được chọn rất kỹ thuộc loại già, hạt mẩy và đều. Trước khi đem đi ủ mầm, thóc được ngâm trong nước khoảng 1 ngày, sau đó, đem ủ khoảng 2 đến 3 ngày, khi hạt nảy mầm đều thì đem ra ruộng gieo. Sau đó, họ dùng bù nhìn quấn bằng rơm dựng ở ruộng để xua đuổi chim khỏi ăn thóc.

Khi mạ gieo xong, để khoảng 4 ngày cho mầm thóc ổn định mới cho nước vào. Nước được lấy từ các hệ thống mương phai nội đồng, ở các ruộng bậc thang thì nước được lấy từ các cọn dẫn nước. Từ khi gieo mạ đến khi cấy thời gian khoảng 25 đến 30 ngày. Mạ nhổ được bó thành từng nắm vừa đủ để cầm tay.

Ruộng để cấy được cày bừa kỹ, khi làm ruộng người Tày sử dụng phân chuồng hoặc phân xanh để bón cho lúa. Ngày nay, nhờ áp dụng khoa học và cải tiến kỹ thuật, nên đồng bào đã sử dụng các loại phân đạm hóa học, thuốc trừ sâu để chăm sóc cho lúa, nhờ vậy nên năng suất tăng cao. Người Tày đã dùng loại lúa ngắn ngày để gieo trồng nên một số ruộng đã cho 2 vụ lúa trên một năm. Từ năm 1991, tỉnh Tuyên Quang có chủ trương đóng 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cửa rừng tự nhiên, công việc canh tác lúa nương chấm dứt, người Tày chỉ chuyên canh tác lúa nước và coi đó là nguồn sống chính của gia đình.

Ngoài ra, đồng bào còn trồng thêm hoa màu tham gia trồng và bảo vệ rừng góp phần “phủ xanh đất trống, đồi núi trọc”. Kinh tế hộ gia đình - Chăn nuôi: Chăn nuôi là một hoạt động kinh tế quan trọng sau trồng trọt. Trước đây, người Tày vẫn chú ý đến việc chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm như trâu bò, lợn, gà, ngan, vịt, dê … nhưng vẫn mang tính tự nhiên chăn thả. Rất ít khi đồng bào Tày làm chuồng trại kiên cố và việc chăm sóc vật nuôi cũng không được chu đáo nên năng suất và hiệu quả kinh tế không cao.

Trong số các loại gia súc lớn, trâu là loại vật nuôi được phổ biến nhất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ