Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn có ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về Văn hóa phi vật thể và vai trò của báo chí đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động thông tin của Báo và Đài PT – TH Thừa Thiên Huế về việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của Huế Chƣơng 3: Một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng chất lƣợng, hiệu quả của Báo và Đài PT – TH Thừa Thiên Huế trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của Huế Nội dung của luận văn sẽ đƣợc trình bày theo thứ tự các chƣơng nói trên 12 Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ VÀ VAI TRÕ CỦA BÁO CHÍ ĐỐI VỚI VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 1.1 Khái niệm Di sản văn hóa và Di sản văn hóa phi vật thể 1. Di sản văn hóa Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, có rất nhiều quan niệm và định nghĩa về văn hóa và di sản văn hóa. Theo tác giả Nguyễn Hữu Đang trong bài Định nghĩa về văn hóa “ Danh từ “ Văn hóa” chúng ta đã mượn ở tiếng Tàu – Người Tầu lấy hai chữ này ở sách cổ_ bộ Kinh Dịch_ để phô diễn một khái niệm mới của Khoa học hiện đại. Cho nên xét theo từ nguyên thì chữ Văn hóa không ngụ được cái ý nghĩa cơ bản là giồng giọt, cầy cấy trong chữ “cultus” của tiếng La- tinh (tiếng Pháp: culture, tiếng Anh: cultures, tiếng Đức: kultur).
Vậy muốn có ý nghĩa xác đáng ta phải công nhận cho chữ “Văn hóa” hiện thời một nghĩa mới nguồn gốc tự Tây Phương” [36, tr 17-19] Đào Duy Anh trong cuốn Việt Nam văn hóa sử cương đã viết ngay ở bài Tựa của cuốn sách “Theo giới thuyết của Felix Sartiaux thì Văn hóa về phuwowbg diện động là cuộc phát triển tiến bộ mà không ngừng của những tác dụng ấy tuy liên lạc mà vẫn riêng nhau. Về phương diện tĩnh thì văn hóa là trạng thái tiến bộ của những tác dụng ấy ở một thời gian nhất định và tất cả các tính chất mà những tác dụng ấy bầy ra ở xã hội loài người “ [1, tr10] Tiếp đó trong Thiên Thứ Nhất, phần Tự luận, học giả Đào Duy Anh đã đặt ngay câu hỏi “Văn hóa là gì?” và ông kết luận: “ Văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương tiện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hóa tức là sinh hoạt” [1, tr 13] Giáo sƣ Trần Quốc Vƣợng đƣa ra ý kiến của mình xoay quanh khái niệm văn hóa và di sản văn hóa. Ông cho rằng: Văn hóa là do con người sáng tạo, có từ thửa bình minh của loài người. Khai niệm này được thay đổi theo thời gian trong quá trình sử dụng.
Giáo sư Trần Quốc Vượng đã chọn đưa ra nhận định của UNESCO: 13 “ Văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt. Văn hóa là tổng thể nói chung những giá tị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Văn hóa là chìa khóa của sự phát triển” [52, tr 72] GS.TSKH Trần Ngọc Thêm lại định nghĩa về văn hóa nhƣ sau: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội “[45, Tr10] Phan Ngọc: “ Không có cái vật gì gọi là văn hóa cả và ngược lại bất kì vật gì cũng có cái mặt văn hóa. Văn hóa là mối quan hệ.
Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với tộc người khác, cá nhân khác. Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ. Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng, có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác” [32,tr 19-20] Nhƣ vậy, có thể đƣa ra định nghĩa cơ bản về Di sản văn hóa nhƣ sau: Di sản văn hóa là những sản phẩm vật chất và tinh thần do con người tạo ra và được sử dụng phục vụ cho đời sống của con người, từ đó hình thành,khẳng định các giá trị của chúng về lịch sử, văn hóa, khoa học… Dựa theo quan điểm của UNESCO, Di sản văn hóa đƣợc phân thành hai loại: Di sản văn hóa Vật thể và di sản văn hóa phi vật thể Di sản văn hóa vật thể: bao gồm những vật thể (hữu hình – Tangible) có giá trị đặc biệt về các mặt văn hóa, lịch sử và tự nhiên, do một cộng đồng văn hóa – xã hội nào đó tạo ra.
Đó là những di vật, di tích nhƣ đền đài, cung điện, chùa chiền, lăng mộ, những hiện vật bảo tàng, thƣ tịch, tài liệu lƣu trữ, mẫu vật tự nhiên, thắng cảnh thiên nhiên, và những hiện vật quý hiếm khác Di sản văn hóa phi vật thể: bao gồm những sản phẩm phi hình thể (vô hình – intangible) có giá trị đặc biệt về các mặt văn hóa, lịch sử do một công đồng văn hóa xã hội nào đó tạo ra. Nó đƣợc lƣu truyền và biến tấu theo các phƣơng thức truyền 14 khẩu, mô phỏng và bắt chƣớc. Thuộc về di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm có các loại hình văn nghệ dân gian (âm nhạc, ca múa, sân khấu, truyện kể, huyền thoại, tạp kỹ…), lễ hội, phong tục tập quán, nghệ thuật chữa bệnh dân gian, nghệ thuật nấu ăn, bí quyết trong sản xuất đồ mỹ nghệ các nghệ nhân, danh nhân văn hóa. Di sản văn hóa phi vật thể Trong luật Di sản văn hóa đƣợc Quốc hội nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21/6/2001, di sản văn hóa phi vật thể đã đƣợc nhìn nhận là: “Di sản văn hóa quy định tại luật này bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Điều 4, khoản 1 trong điều luật này định nghĩa: “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân ca, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về văn hóa truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác” [30] Tính từ Công ƣớc di sản thế giới (Paris, 1972) trở về trƣớc, trong nhận thức về di sản văn hóa của nhân loại, UNESCO mới quan tâm đến các di sản khảo cổ, kiến trúc, địa danh văn hóa và tự nhiên trong danh mục Di sản thế giới. Di sản văn hóa phi vật thể vẫn chƣa đƣợc đề cập đến với tƣ cách nhƣ là những di sản của nhân loại. Năm 1989, với một nhân thức hoàn toàn khác hẳn, da diện hơn, nhiều chiều hơn, UNESCO đã xây dựng văn bản quốc tế bảo vệ di sản văn hóa truyền miệng và vô hình của nhân loại, bảo vệ văn hóa truyền thống và văn hóa dân gian Tuyên bố về kiệt tác di sản truyền miệng và vô hình của nhân loại đƣợc thông qua tại Paris năm 1989 đã định nghĩa: “ Di sản văn hóa phi vật thể (Intangible Cultural Heritage) là toàn bộ những sáng tạo dựa trên cơ sở truyền thống của một cộng đồng văn hóa, được thể hiện bởi 15 một nhóm hoặc cá nhân và được công nhận là phản ánh những mong muốn của một cộng đồng tới mức mà chúng phản ánh được bản sắc văn hóa và xã hội của cộng đồng đó; những tiêu chuẩn và giá trị của những sáng tạo này được truyền miệng bằng cách mô phỏng hay bằng các hình thức khác. Trong số những hình thức sáng tạo, hình thức của dạng sáng tạo này bao gồm ngôn ngữ, văn học, âm nhạc, điệu múa, trò chơi, thần thoại, lễ nghi, phong tục, đồ thủ công, kiến trúc và các loại hình nghệ thuật khác.
Ngoài những hình thức này, người ta cũng tính đến thông tin liên lạc truyền thống” Nhƣ vậy, có thể hiểu một cách khái quát: Văn hóa phi vật thể đó là một dạng tồn tại (hay thể hiện) của văn hóa không phải chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối tồn tại khách quan trong không gian và thời gian, mà nó thường tiềm ẩn trong trí nhớ, tập tính, hành vi, ứng xử của con người và thông qua các hoạt động sống của con người trong sản xuất, giao tiếp xã hội trong hoạt động tư tưởng và văn hóa - nghệ thuật mà thể hiện ra, khiến người ta nhận biết được sự tồn tại của nó. Có thể kể ra đây những dạng thức chính của di sản văn hóa phi vật thể: Ngữ văn truyền miệng, nhƣ thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, ca dao, thành ngữ, tục ngữ, vè, ngụ ngôn.Các hình thức diễn xƣớng và trình diễn bao gồm các hình thức ca múa, nhạc, sân khấu (nghệ thuật diễn xƣớng). Những hành vi ứng xử của con ngƣời, đó là ứng xử giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân trong cộng đồng, ứng xử giữa các cộng đồng. Các hình thức nghi lễ, tín ngƣỡng tôn giáo, phong tục, lễ hội nhƣ Phật giáo, Ki-tô giáo, đạo giáo, thờ cúng tổ tiên, đạo Mẫu.
Tri thức dân gian cũng là một lĩnh vực của văn hóa phi vật thể. Tri thức dân gian ở chừng mực nào đó còn đƣợc hiểu tƣơng ứng với các thuật ngữ nhƣ tri thức bản địa, tri thức địa phƣơng.Những làng nghề truyền thống 1. Một số loại hình văn hóa phi vật thể tiêu biểu ở Tỉnh Thừa Thiên Huế Huế một vùng non sông kỳ thú, với sự sáng tạo của con ngƣời đã lƣu giữ trong lòng mình những tài sản vô cùng quý giá. Một trong những giá trị nổi bật mang tính toàn cầu là Quần thể Di tích Huế đã đƣợc công nhận vào Danh mục Di sản Văn hóa 16 Thế giới (World Heritage List) ngày 11/12/1993.