Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA 1. QUAN NIỆM VỀ DI SẢN VĂN HÓA Văn hóa hình thành trong hoạt động sống của con người và mối quan hệ tương tác giữa con người với tự nhiên. Trong quá trình hình thành và phát triển, văn hóa hàm chứa một hệ giá trị được xã hội, cộng đồng thừa nhận. Các giá trị văn hóa là cốt lõi của văn hóa.
Giá trị văn hóa chứa đựng, kết tinh trong di sản văn hóa và thông qua di sản văn hóa để thực hiện các chức năng xã hội. GS, TS Ngô Đức Thịnh khi nghiên cứu về văn hóa truyền thống Việt Nam đã định nghĩa: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trình quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình” [56, tr. Di sản văn hóa là hình thức tồn tại của giá trị văn hóa, hệ giá trị văn hóa có nguồn gốc từ nhu cầu của con người, nó thể hiện một chuẩn mực xã hội mà con người muốn hướng tới, nói cách khác nó là tiêu chí để đánh giá, điều chỉnh hành vi, suy nghĩ… của một cá nhân trong một cộng đồng xã hội nhất định. Các giá trị văn hóa là yếu tố cốt lõi của văn hóa, nó được sáng tạo và kết tinh trong quá trình lịch sử của mỗi cộng đồng, tương ứng với môi trường tự nhiên và xã hội nhất định.
Giá trị văn hóa hướng tới thỏa mãn những nhu cầu và khát vọng của cộng đồng về những điều tốt đẹp, bồi đắp và nâng cao bản chất người [56, tr. Như vậy giá trị văn hóa đóng vai trò là thành tố để phân biệt di sản văn hóa với các hiện tượng văn hóa nói chung hình thành trong quá trình lịch sử của một cộng đồng, xã hội nhất định. Di sản văn hóa được xem như là những yếu tố đặc biệt, nổi bật, là tinh hoa của văn hóa. 10 “Từ điển Tiếng Việt” định nghĩa: “Di sản là cái của thời trước để lại; văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” [67, tr.
Khái niệm Di sản văn hóa là tập hợp những cặp phạm trù vừa mang tính tương phản, vừa mang tính thống nhất (Truyền thống - hiện đại; Kế thừa - phát triển…). Trong mối quan hệ truyền thống - hiện đại, di sản văn hóa chính là cái hiện đại được truyền lại trong quá khứ. Với ý nghĩa này, di sản văn hóa đóng vai trò như một “mã di truyền xã hội”, một thứ ký ức tập thể cho phép sự tái sinh, sự nhớ lại về quá khứ trên trục thời gian, làm nên tính liền mạch của nền văn hóa dân tộc. Di sản ở đây được hình dung như một bảng thang giá trị hay hệ thống các giá trị, những nhân tố hình thành nên bản sắc văn hóa của một dân tộc.
Trong mối quan hệ kế thừa - phát triển di sản văn hóa có tính khả biến. Chủ thể nhận thức tiếp thu các di sản văn hóa trên cơ sở kế thừa, đưa chúng vào hiện tại trong những phức hợp loại hình quan hệ với những giá trị mới nảy sinh, làm phong phú cho kho tàng di sản văn hóa của mình. Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài, di sản văn hóa được xem là một thuật ngữ khoa học xuất phát điểm hình thành từ cuộc cách mạng Tư sản Pháp năm 1789. Sau thành công của cuộc cách mạng, Nhà nước Pháp lúc bấy giờ đã tiến hành kiểm kê, mô tả sắp xếp, phân loại các công trình lịch sử để xác định thứ tự ưu tiên nhằm khôi phục và bảo tồn di sản quốc gia.
Cách hiểu sơ khai ban đầu của di sản đó là “ý niệm về một tài sản chung, tài sản của mọi công dân, chứ không phải của riêng một ai, đó là ý niệm đó tạo thành cái ý thức về di sản quốc gia” [76, tr. Ngày 18 tháng 6 năm 1964, tại Philippines, Luật về giữ gìn và bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa được công bố, khi đó các di tích lịch sử văn hóa được gọi chung là di sản văn hóa. Tại Ảrập - xêút, Pháp lệnh của nhà vua quy định về quản lý di tích lịch sử được công bố ngày 3 tháng 8 năm 1972 đã có định nghĩa chung về cổ vật động sản và cổ vật bất động sản. 11 Năm 1897 Nhật Bản đã ban hành Luật bảo vệ di tích chùa chiền cổ, đến năm 1950 tiếp tục ban hành Luật bảo vệ tài sản văn hóa, đây là bộ luật được đánh giá là hoàn thiện nhất về di sản văn hóa vào thời gian bấy giờ.
Đến năm 1975, Nhật Bản ban hành Luật số 214 về Bảo vệ di sản văn hóa, các di tích lịch sử văn hóa, chúng được gọi chung là di sản văn hóa vật chất, di sản văn hóa phi vật chất, di sản văn hóa dân gian và những công trình kỷ niệm. Tiếp theo đó Hội nghị Di sản toàn quốc của Vương quốc Anh năm 1983 đó định nghĩa “di sản là những gì thuộc về thế hệ trước giữ gìn và chuyển giao cho thế hệ hiện nay và những gì mà một nhóm người quan trọng trong xã hội hiện nay mong muốn chuyển giao cho thế hệ tương lai” [76, tr. UNESCO đã ra công ước bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới vào năm 1972, công ước đã đưa ra các quan niệm di sản văn hóa bao gồm các di tích, quần thể, thắng cảnh. Công ước nhấn mạnh đến các đối tượng miêu tả là các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa, các di chỉ khảo cổ, các công trình của con người tạo ra hoặc những công trình có sự kết hợp của con người với thiên nhiên…có ý nghĩa, giá trị quốc tế về phương diện lịch sử, nghệ thuật, thẩm mỹ, khoa học.
Từ đó ta nhận thấy rằng điểm nổi bật thấy rõ rằng quan niệm này của UNESCO đã nghiêng về yếu tố vật chất của di sản văn hóa. Đến năm 1992 UNESCO đã đưa ra khái niệm mới đối với di sản hỗn hợp hay cảnh quan văn hóa để miêu tả mối quan hệ giữa văn hóa và thiên nhiên. UNESCO họp phiên thứ 32 tại Paris từ 29/9 đến 17/10/2003 đã bàn thảo và ra Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Công ước đó ghi nhận: Các quá trình toàn cầu hóa và chuyển đổi cơ cấu xã hội cộng với các điều kiện khác đó tạo nhiều cơ hội đối thoại mới giữa các cộng đồng, đồng thời cũng làm nảy sinh những mối đe dọa về sự suy thoái biến mất và hủy hoại các di sản văn hóa phi vật thể.
Năm 1938 học giả Đào Duy Anh đã đề cập đến quan niệm di sản trong nhận định về vai trò của nhân tố nội sinh trong sự giao lưu tiếp biến văn hóa bản địa: “Ta muốn trở nên một nước cường thịnh vừa về vật chất, vừa về tinh thần thì phải giữ văn hóa cũ (di sản) làm thể; mà lấy văn hóa mới làm dụng, 12 nghĩa là phải khéo điều hòa tinh túy của văn hóa Phương Đông với những điều sở trường về khoa học và kỹ thuật của văn hóa Phương Tây” [1, tr. GS Hoàng Vinh nhận định: Những thành tựu của những hoạt động sáng tạo (những hoạt động sáng tạo này sinh ra hiểu biết, kinh nghiệm sống, đúc kết thành truyền thống, thị hiếu, giá trị…), bất kể là vật thể hay phi vật thể, hữu hình hay vô hình, qua thời gian sàng lọc, thử thách, kết tinh lại thành di sản văn hóa [70, tr. Nhà nghiên cứu Lưu Trần Tiêu cho rằng: Di sản văn hóa là toàn bộ những sản phẩm vật chất (hay còn gọi là vật thể) và tinh thần (hay còn gọi là phi vật thể), có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, do con người sáng tạo và tiếp nhận trong điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế - xã hội của mình, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác [57, tr.2] Năm 2001 Việt Nam ban hành Luật Di sản văn hóa (sửa đổi năm 2009) trong đó khẳng định: Di sản văn hóa là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là bộ phận của di sản văn hóa nhân loại có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Tại điều 1: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [48, tr.
Cùng với đó Việt Nam đã phê chuẩn Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII nêu rõ: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở sáng tạo giá trị mới và giao lưu văn hóa” [16, tr. Nghị quyết Đại hội Đảng khóa IX, khóa X và khóa XI của Đảng tiếp tục đưa nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là nhiệm vụ then chốt trong nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân và củng cố, thúc đẩy kinh tế phát triển. Đảng và Nhà nước ta xác định việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa là nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng nền văn 13 hóa, bản sắc văn hóa dân tộc, đưa văn hóa trở thành động lực tinh thần thúc đẩy kinh tế phát triển, các lĩnh vực của đời sống được nâng cao và từng bước xây dựng đất nước hiện đại văn minh, bắt kịp với các quốc gia trong thời kỳ hội nhập toàn cầu hóa.
PHÂN LOẠI DI SẢN VĂN HÓA Trước khi tổ chức UNESCO ra đời, ở mỗi quốc gia có một cách phân loại di sản theo quan niệm khác nhau, có thể là hữu hình - vô hình, tĩnh - động, vật thể - phi vật thể… Trong công ước về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên trên thế giới vào năm 1972, UNESCO cũng chỉ nghiêng về yếu tố vật thể của di sản văn hóa khi quan niệm di sản văn hóa là những công trình kiến trúc, những kết cấu hay cảnh quan.