Nghiên cứu bảo tồn loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp (Amentotaxus argotaenia) tại Sơn La và Hòa Bình

Tài liệu nghiên cứu Luận án nghiên cứu một số cơ sở khoa học để bảo tồn loài dẻ tùng sọc trắng hẹp amentotaxus, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Chuyên ngành

Lâm sinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2023

230
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bảo tồn loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp tại Sơn La và Hòa Bình

Loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp (Amentotaxus argotaenia) là một trong những loài thực vật quý hiếm tại Việt Nam, đặc biệt là ở hai tỉnh Sơn La và Hòa Bình. Việc bảo tồn loài này không chỉ có ý nghĩa về mặt sinh thái mà còn góp phần bảo vệ đa dạng sinh học của khu vực Tây Bắc. Nghiên cứu này nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình hiện tại của loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp và các biện pháp bảo tồn cần thiết.

1.1. Đặc điểm sinh học của loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp

Dẻ tùng sọc trắng hẹp là cây gỗ nhỡ, cao từ 7-13m, với lá đơn có mặt trên xanh thẫm và mặt dưới có dải lỗ khí màu trắng. Loài này thường mọc ở độ cao từ 950m đến 1600m, trong các khu rừng ẩm ướt và mát mẻ.

1.2. Tình trạng phân bố của Dẻ tùng sọc trắng hẹp

Loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố rải rác tại một số vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên ở Sơn La và Hòa Bình. Tuy nhiên, diện tích phân bố của loài này đang bị thu hẹp do khai thác và mất môi trường sống.

II. Vấn đề và thách thức trong bảo tồn Dẻ tùng sọc trắng hẹp

Mặc dù có giá trị sinh thái và kinh tế cao, loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc bảo tồn. Nguy cơ tuyệt chủng do khai thác quá mức và mất môi trường sống là những vấn đề nghiêm trọng cần được giải quyết.

2.1. Nguy cơ tuyệt chủng của Dẻ tùng sọc trắng hẹp

Theo danh sách đỏ IUCN, Dẻ tùng sọc trắng hẹp được xếp vào nhóm loài ít nguy cấp. Tuy nhiên, nếu không có biện pháp bảo tồn kịp thời, loài này có thể trở thành nguy cấp trong tương lai.

2.2. Tác động của khai thác và biến đổi khí hậu

Khai thác gỗ và biến đổi khí hậu đang làm giảm nghiêm trọng quy mô quần thể Dẻ tùng sọc trắng hẹp. Việc mất môi trường sống do phát triển nông nghiệp và đô thị hóa cũng là một trong những nguyên nhân chính.

III. Phương pháp bảo tồn Dẻ tùng sọc trắng hẹp hiệu quả

Để bảo tồn loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp, cần áp dụng các phương pháp bảo tồn tại chỗ và chuyển chỗ. Các biện pháp này không chỉ giúp bảo vệ loài mà còn duy trì đa dạng sinh học trong khu vực.

3.1. Bảo tồn tại chỗ In situ

Bảo tồn tại chỗ là phương pháp bảo vệ loài trong môi trường tự nhiên của nó. Việc thiết lập các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia là rất cần thiết để bảo vệ Dẻ tùng sọc trắng hẹp.

3.2. Bảo tồn chuyển chỗ Ex situ

Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm việc nhân giống và trồng cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp ở các khu vực khác. Phương pháp này giúp duy trì nguồn gen và tạo điều kiện cho loài phát triển trong môi trường an toàn.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về Dẻ tùng sọc trắng hẹp

Nghiên cứu về Dẻ tùng sọc trắng hẹp đã cho thấy nhiều kết quả khả quan trong việc bảo tồn và phát triển loài. Các biện pháp kỹ thuật nhân giống và trồng thử nghiệm đã được áp dụng thành công tại Sơn La và Hòa Bình.

4.1. Kết quả nhân giống Dẻ tùng sọc trắng hẹp

Các thí nghiệm nhân giống bằng hom cành đã cho thấy tỷ lệ ra rễ cao, cho phép nhân giống loài này một cách hiệu quả. Kỹ thuật này đã được áp dụng tại nhiều khu vực khác nhau.

4.2. Đánh giá sinh trưởng của cây trồng

Kết quả đánh giá sinh trưởng của cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp trồng tại các khu bảo tồn cho thấy cây phát triển tốt, góp phần vào việc bảo tồn loài trong tự nhiên.

V. Kết luận và tương lai của bảo tồn Dẻ tùng sọc trắng hẹp

Bảo tồn loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp là một nhiệm vụ cấp bách và cần thiết. Các biện pháp bảo tồn hiện tại cần được củng cố và mở rộng để đảm bảo sự tồn tại bền vững của loài này trong tương lai.

5.1. Tầm quan trọng của bảo tồn Dẻ tùng sọc trắng hẹp

Bảo tồn Dẻ tùng sọc trắng hẹp không chỉ bảo vệ một loài thực vật quý hiếm mà còn duy trì sự cân bằng sinh thái trong khu vực Tây Bắc.

5.2. Đề xuất các giải pháp bảo tồn trong tương lai

Cần có sự hợp tác giữa các cơ quan chức năng, tổ chức phi chính phủ và cộng đồng địa phương để triển khai các giải pháp bảo tồn hiệu quả cho Dẻ tùng sọc trắng hẹp.

16/07/2025
Luận án nghiên cứu một số cơ sở khoa học để bảo tồn loài dẻ tùng sọc trắng hẹp amentotaxus argotaenia hance pilg tại 2 tỉnh sơn la và hòa bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu về chi Dẻ tùng (Amentotaxus) a. Phân loại, đặc điểm hình thái + Phân loại Theo Pilger (1916) lần đầu mô tả chi Amentotaxus đã xếp loài A.

vào Họ Cephalotaxaceae về sau với những nghiên cứu sâu thêm về hình thái có sự khác biệt ông đã xếp chi Amentotaxus vào họ Thông đỏ Taxaceae. Đến năm 1952 tác giả Hui Lin Li (1952) sửa đổi và bổ sung thêm mô tả hình thái chỉ ra sự khác biệt về cấu tại giải phẫu và đặc biệt là sự khác nhau về độ rộng của các dải lỗ khí ở mặt dưới của lá cho ba loài của chi Amentotaxus là A. cathayensis hay chính là loài A. Kết quả nghiên cứu phân loại này của chi Amentotaxus qua nhiều nghiên cứu của các tác giả khác cũng đã được giữ nguyên cho đến nay.

Năm 2017 theo kết quả nghiên cứu mới nhất của Gao (2017) dựa trên dữ liệu phân tích đặc điểm hình thái và phân tử DNA của 2 loài Dẻ tùng sọc nâu (Amentotaxus hatuyenensis TH Nguyen) với loài Dẻ tùng vân nam (Amentotaxus yunnanensis) chứng minh bằng sinh học phân tử với độ chính xác 100%. Kết luận 2 loài Amentotaxus hatuyenensis với loài Amentotaxus yunnanensis là 1 loài. Đến năm 2019 tác giả Lian – Ming Gao (2019) đã công bố thêm 1 loài mới cho chi Dẻ tùng có tên là Amentotaxus hekouensis LM Gao. Như vậy, với kết quả nghiên cứu của các tác giả trên cho thấy số loài thuộc chi Amentotaxus hiện nay có 6 loài sau khi công bố thêm 1 loài Dẻ tùng mới vào năm 2019.

+ Đặc điểm hình thái: Kết quả nghiên cứu mô tả và so sánh các đặc điểm hình thái của các loài trong chi Dẻ tùng là cơ sở khoa học ban đầu để nhận biết và phân biệt các loài thực vật với nhau trong chi được trình bày dưới đây: Tác giả Averyanov Leonid V. và cộng sự (2014) mô tả đặc điểm chung của chi 6 Amentotaxus - lá dài 3,5 - 10 cm, rộng 8 - 15 mm, các dải lỗ khí mầu trắng rộng hơn 1 mm; nón cái đơn (hình bầu dục) mọc từ nách lá cuống dài 2cm, nón đực mọc thành chùm, áo hạt mầu đỏ, cấu trúc mang hạt giống dài. Gosling (2008) Amentotaxus là một chi có phân bố hẹp ở Đông Á. Chủ yếu là cây gỗ nhỡ cao 20m (Rushforth, 1987) mặc dù cây lớn cao tới 40m, đường kính có thể đạt đến 1m.

Trong chi Amentotaxus loài Amentotaxus argotaenia có phân bố rộng nhưng bị chia cắt qua Nam Trung Quốc, Bắc Việt Nam và Lào. Còn 4 trong số 5 loài còn lại là những loài đặc hữu phân bố hẹp trong khu vực Đông Nam Đài Loan (A. Li) và Việt Nam (A. Nguyễn & Vidal và A.

yunnanensis được biết đến từ Đông Nam Trung Quốc, miền Bắc Việt Nam và khu vực liền kề của Lào (Thomas và cộng sự 2007). Năm 1985 ở Đông Bắc của Ấn Độ, một loài mới của chi Amentotaxus có tên khoa học là Amentotaxus assamica D. nov được công bố bởi Ferguson (1985). Nghiên cứu này đã chỉ ra sự khác nhau về cấu tạo giải phẫu của loài mới này so với các loài đã công bố trước như A.

formosana về các đặc điểm như: chiều dài lá, tỉ lệ của dải biên và dải lỗ khí, ống nhựa, bề dày tầng cutin, Kích thước biểu bì, Mô dậu, Bề dày tầng cutin, và đặc biệt là sự khác nhau về kích thước của cơ quan sinh sản như nhị hoa, số lượng túi phấn. Nghiên cứu của Farjon (2010) về loài Amentotaxus assamica là cây cao đến 20m, lá xanh quanh năm. Lá dài 2-3,7 cm, rộng 5-7 mm. Phấn hoa hình nón mọc thành chùm 10 nón, nón dài 1,5-5,5 cm.

Hạt giống kích thước dài 20 mm và rộng 10 mm. Theo Averyanov Leonid V. và cộng sự (2014) đã mô tả đặc điểm Dẻ tùng vân nam A. yunnanensis cây cao đến 30 m, đường kính 0,8 m, lá dài 3,5 - 10,0 cm, rộng 0,8 - 1,5 cm, mặt dưới lá có các dải lỗ khí màu nhạt.

Dải xanh đậm ở mép lá 1,5 - 2,0 mm, dải lỗ khí rộng 3 - 4 mm. Nón đực mọc thành cặp hoặc mọc thành chùm 4 - 6 ở ngọn cành nhỏ, dài 10 - 15 cm. Hạt giống hình trứng, hạt dài bầu dục 2,2 - 3,0 cm, đường kính 1,4 - 1,5 cm. Chín ngon ngọt, màu đỏ chuyển tím.

Thụ phấn tháng tư, hạt giống chín tháng mười. 7 Loài mới Amentotaxus hekouensis LM Gao đã được tác giả Lian Ming Gao (2019) so sánh các đặt điểm hình thái gần tương tự như A. argotaenia lá hình mác hoặc hình mác thẳng, các dải khí khổng màu trắng và các vi hạt 6–8, mỗi lá có 4–6 túi phấn, nhưng khác với loại sau bởi kích thước lá lớn hơn với 8–12,5 cm × 0,9–1,4 cm (so với 2– 11 cm × 0,5–1,1 cm ở A. argotaenia ), đỉnh lá dài (so với tròn đến hình tam giác nhọn ở A.

argotaenia ), dải khí khổng có 25–30 hàng (so với 15–25 hàng ở A. argotaenia), dải khí khổng bằng hoặc hẹp hơn một chút so với dải biên (so với hẹp hơn dải biên ở A. argotaenia ); Hạt phấn hình nón sinh ra từ 1–2 (so với 2–4 (10) ở A. argotaenia ), nón trong 12–16 cặp (so với khoảng 12 cặp ở A.

Sự khác biệt để công nhận nó là loài mới đã được xác nhận thông qua phân tích mã vạch DNA của chi này. Đặc điểm phân bố, sinh thái + Phân bố: Nghiên cứu về chi Dẻ tùng Amentotaxus (Taxaceae) của Thomas (2007) cho rằng trước đó không có phân bố tại Lào. Hiện tại ghi nhận sự phân bố của 2/6 loài của chi. Amentotaxus là một chi nhỏ gồm 6 loài được phân bố ở Đông Bắc Ấn Độ, Nam Trung Quốc, và Việt Nam (Farjon, 2001).

Bốn loài là những loài đặc hữu hẹp: Amentotaxus assamica D.ferguson từ Assam ở Đông Bắc Ấn Độ và Xizang trong Trung Quốc, A. formosana từ Đài Loan, A. poilanei từ Trung tâm Việt Nam và A. hatuyenensis từ miền bắc Việt Nam.

Theo Farjon (2010) các loài thuộc chi Amentotaxus (Taxaceae) bao gồm sáu loài, phân bố ở miền nam Trung Quốc (bao gồm cả Đài Loan), các khu vực nhỏ của phía đông dãy Himalaya và một phần của Đông Dương. Cụ thể các loài được phân bố dưới các nghiên cứu sau: Nghiên cứu của các tác giả ThoMaS (2007) và Farjon (2010) về loài A. yunnanensis có ghi nhận phân bố ở Trung Quốc (Quý Châu, Vân Nam); Việt Nam (Bắc Cạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Nghệ An và Thanh Hóa); ThomMaS (2007) những nghiên cứu ở Lào sau 2002 ghi nhận phân bố 2 loài thuộc chi Amentotaxus là (A. yunnanensis ở tỉnh Hủa Păn.

8 Theo các nghiên cứu của Farjon, A. poilanei là loài đặc hữu của Việt Nam có phân bố tại núi Ngọc Pan, Kon Tum. Lào phân bố tại Attapeu, Xekong. Theo Lian Ming Gao (2019) nghiên cứu phân bố của loài Dẻ tùng A.s hekouensis được tìm thấy ở các khu vực nhỏ lẻ không còn tồn tại ở Trung Quốc (Funing, Malipo và Hekou County, Vân Nam), Việt Nam (Mường Khương, tỉnh Lào Cai; Mai Châu, tỉnh Hòa Bình) và Lào (Xiêng Khoảng).

+ Sinh thái: Các loài thuộc Chi Amentotaxus (Taxaceae) theo kết quả của Lian Ming Gao (2017) cho thấy các loài này thường xuất hiện ở vùng dưới núi ẩm ướt và rừng nửa rụng lá hoặc thường xanh trên núi đá vôi. Cụ thể các loài được phân bố dưới các nghiên cứu sau: Nghiên cứu của Chin Su Lin (2007) và Farjon, A. (2010) cho thấy loài A. formosana có phân bố phía Đông Nam của Đài Loan trong các rừng nhiệt đới thường xanh và rừng cận nhiệt đới lá rộng với thảm thực vật đa dạng.

formosana là cây thường xanh, phân bố độ cao 700 - 1500m thường mọc dưới tán rừng ở độ cao 900m trong rừng hỗn giao cây lá kim và lá rộng, mọc ở sườn dốc, trong khe núi, hoặc trên các vách đá. Dẻ tùng sọc thường mọc cùng các loài cây cây lá rộng chiếm ưu thế chính của rừng thuộc họ Fagaceae (Castanopsis, Lithocarpus, Quercus) và một cây lá kim khác như Podocarpus nakaii. Theo Thomas (2007), Farjon. yunnanensis trước đây chỉ được biết đến từ một vài quần thể phân bố hẹp trong các khu rừng thường xanh ở hệ tầng karst ở Đông Nam Vân Nam, Tây Nam Quý Châu và các khu vực giáp ranh của Việt Nam và Lào.

Ở miền Bắc Việt Nam tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (Nguyễn Tiến Hiệp và cộng sự, 2004). Vào tháng 11 năm 2005, loài này được phát hiện tại Lào ở huyện Vieng Xai, tỉnh Luông Pha Băng. Trong khu vực này, cây cao đến 20m với đường kính đến 0,75m đã được tìm thấy ở độ cao từ 1100-1700m so với mực nước biển thường mọc cùng với Cickyhamia konishii và Fokienia hodginsii. Kết quả nghiên cứu khác của Leonid V.

Averyanov và cộng sự (2014) và 9 Thomas và cộng sự (2013), ở Ấn Độ loài Dẻ tùng vân nam phân bố độ cao 800 - 1600m, mọc gần đỉnh của các rặng núi đá vôi, trên đất hình thành karst đá vôi, đá granit hoặc gneiss, hiếm khi mọc trên đất có nguồn gốc silicat. Dẻ tùng vân nam tái sinh tự nhiên khá tốt. Thường mọc cùng các cây lá kim như Cephalotaxus mannii, Dacrycarpus imbricatus, Dacrydium elatum, Fokienia hodginsii, Nageia wallichiana, Podocarpus neriifolius, Pseudotsuga sinensis, Taxus chinensis, Tsuga chinensis và Xanthocyparis. Nghiên cứu phân bố và cấu trúc quần thể của Das, A.

(2011) cho thấy loài Amentotaxus assamica thuộc họ Taxaceae. DK Ferguson (1985) báo cáo lần đầu tiên vào năm 1985, loài này là một loài đặc hữu và cực kỳ nguy cấp ở Arunachal Pradesh, một bang ở Đông Bắc, Ấn Độ, có sự phân bố đai cao từ 1.000m thường mọc cùng loài Chimnobambusa sp với số lượng rất nhiều. Mật độ cây con cao cho thấy khả năng tái sinh tốt trên lâm phần tự nhiên này. Nghiên cứ của Farjon (2010) cho thấy loài A.

poilanei phân bố ở rừng nhiệt đới thường xanh, ở độ cao khoảng 2300m, lượng mưa rất cao khoảng 3000 mm mỗi năm và nhiệt độ mát mẻ quanh năm. Mọc hỗn giao với cây lá rộng chỉ mọc cùng loài Nageia wallichiana là loài cây lá kim duy nhất tại đây. Như vậy từ các kết quả nghiên cứu kể trên ta thấy rằng các loài trong chi Dẻ tùng có đặc điểm sinh thái là thường mọc ở các khu rừng thường xanh á nhiệt đới hỗ giao cây lá kim với cây lá rộng trên núi đá vôi, đa số là các cây chịu bóng và bị đe dọa tuyệt chủng bởi nguyên nhân mất sinh cảnh sống do nạn phá rừng. Nghiên cứu đa dạng di truyền chi Amentotaxus Wang Chieh Ting và cộng sự (1996) đã phân tích ADN đa hình được khuếch đại ngẫu nhiên (RAPD) và isozyme để điều tra sự biến đổi di truyền trong các quần thể phân bố hẹp của A.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Bảo tồn loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp tại Sơn La và Hòa Bình" tập trung vào việc bảo vệ và duy trì sự sống còn của loài cây quý hiếm này, một phần quan trọng trong hệ sinh thái địa phương. Tài liệu nêu rõ các biện pháp bảo tồn cần thiết, bao gồm việc nghiên cứu môi trường sống, đánh giá tình trạng hiện tại của loài, và phát triển các chương trình giáo dục cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo tồn. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách thức bảo vệ loài cây này, cũng như những lợi ích mà nó mang lại cho môi trường và cộng đồng.

Để mở rộng kiến thức về các nỗ lực bảo tồn khác, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu bảo tồn loài xá xị cinnamomum parthenoxylonjack meisn tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên tỉnh thanh hóa, nơi nghiên cứu về một loài cây khác cũng đang gặp nguy hiểm. Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lâm học làm cơ sở bảo tồn loài săng đào hopea ferrea piere 1886 tại khu bảo tồn thiên nhiên bình châu phước bửu tỉnh bà rịa vũng tàu sẽ cung cấp thêm thông tin về các biện pháp bảo tồn trong lĩnh vực lâm nghiệp. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu về Ứng dụng mô hình hóa sinh cảnh trong xác định khu vực ưu tiên trồng bảo tồn loài thông pà cò pinus kwangtungesis tại kbttn hang kia pà cò, một nghiên cứu về việc áp dụng công nghệ trong bảo tồn sinh thái. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các vấn đề bảo tồn hiện nay.