Phần mở đầu của Pháp lệnh khẳng định: “DTLSVH và DLTC là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam” và cần sử dụng các DT này nhằm “Giáo dục truyền thống dựng nƣớc, giữ nƣớc của dân tộc Việt Nam. Phục vụ nghiên cứu khoa học, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hóa của nhân dân. làm giàu đẹp kho tàng di sản văn hóa dân tộc, và góp phần làm phong phú văn hóa thế giới”. Pháp lệnh 14LCT/HĐNN có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp bảo tồn ở nƣớc ta.
Nội dung pháp lệnh phản ánh đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc ta trong việc kế thừa di sản văn hóa, xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa. Pháp lệnh cũng là điểm mốc đánh dấu sự trƣởng thành của ngành bảo tồn bảo tàng Việt Nam. Ngày 6/2/2003 Bộ trƣởng Bộ Văn hóa – Thông tin đã ban hành quyết định số 05 về việc ban hành quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi DTLSVH, DLTC. Trong điều 5 chƣơng I quy định nguyên tắc bảo quản, tu bổ và phục hồi DT, gồm 6 mục: 1.
Chỉ tiến hành bảo quản, tu bổ và phục hồi DT trong trƣờng hợp cần thiết và phải lập thành dự án (Trƣờng hợp tu sửa cấp thiết DT thực hiện theo quy định tại 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Điều 10 và Điều 11 của Quy chế này). Dự án và thiết kế bảo quản, tu bổ và phục hồi DT hoặc báo cáo tu sửa cấp thiết DT phải đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền phê duyệt. Bảo đảm tính nguyên gốc, tính chân xác, tính toàn vẹn, sự bền vững của DT. Ƣu tiên cho các hoạt động bảo quản, gia cố DT trƣớc khi áp dụng những biện pháp kỹ thuật tu bổ và phục hồi khác.
Việc thay thế kỹ thuật hay chất liệu cũ bằng kỹ thuật hay chất liệu mới phải đƣợc thí nghiệm trƣớc để bảo đảm kết quả chính xác khi áp dụng vào DT. Chỉ thay thế một bộ phận cũ bằng một bộ phận mới của DT khi có đủ những chứng cứ khoa học chuẩn xác và phải có sự phân biệt rõ ràng giữa bộ phận mới thay thế với những bộ phận gốc. Bảo đảm an toàn cho bản thân công trình và khách tham quan. Trên cơ sở các văn bản pháp lý của quốc tế và quốc gia mà trong những năm qua việc bảo tồn di sản văn hóa ở nƣớc ta ngày càng đạt đƣợc những kết quả tốt.
Trong thực tế, vấn đề bảo tồn văn hóa phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau nhƣ: nhận thức về lý thuyết và thực hành của các nhà bảo tồn, trạng thái của DT, điều kiện môi trƣờng,. nhƣng có thể rút ra một số nguyên tắc chung về bảo tồn văn hóa cơ bản sau: Thứ nhất, thực hiện nghiêm túc Luật Di sản văn hóa trong bảo tồn, tôn tạo DT: nguyên tắc này đƣợc tiến hành bằng việc nâng cao vai trò quản lý của các cơ quan công quyền, năng lực chuyên môn và ý thức trách nhiệm của các cơ quan chuyên môn và ý thức pháp luật của công dân, đặc biệt là những ngƣời đang trực tiếp thực hiện công việc bảo tồn – bảo vệ di sản. Có nhƣ vậy mới huy động và phát huy đƣợc các nguồn lực trí tuệ và nguồn lực vật chất một cách hiệu qủa nhất trong công tác bảo tồn, tôn tạo DTLSVH và DLTC. Thứ hai, giữ nguyên các yếu tố gốc: Yếu tố gốc (yếu tố nguyên gốc) phải đƣợc hiểu trên nhiều phƣơng diện: “trƣớc hết có thể hiểu là phải giữ lại tất các yếu tố nhƣ khi bắt đầu xây dựng, cố gắng không thay thế cái mới, mặc dù cái mới ở đây cũng tuân thủ nhƣ trƣớc về các 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com yếu tố cơ bản nhƣ: chất liệu, kích thƣớc, kỹ thuật chế tác, màu sắc, mỹ thuật, độ bền.180] Trong trƣờng hợp một yếu tố cũ đã bị phá hủy hoàn toàn và không còn khả năng duy trì chức năng, thì cần thiết phải sử dụng yếu tố mới để thay thế.
Nếu cần sử dụng vật liệu khác phải lựa chọn cẩn thận, và chắc chắn nhân tố này sẽ in lên DT dấu ấn của thời đại ngày nay. Điều khó khăn nhất cần cân nhắc là khi các thế hệ sau nhìn lại quá khứ có tán thành cách sử dụng vật liệu này, họ có thể phân biệt đƣợc yếu tố gốc và các thành phần mới đƣợc thêm vào. Tuy nhiên, khi nghiên cứu chất liệu gốc của DT cần bảo tồn, nếu nhận thấy công trình có một số loại gỗ kém sức bền và dễ bị tác động của thời tiết, côn trùng thì nhà bảo tồn có xu hƣớng thay thế bằng loại gỗ tốt hơn; cũng có trƣờng hợp ngƣời ta đặt vào trong những tấm gỗ các dầm bê tông ứng lực để giữ dáng vẻ bên ngoài của bản gốc. Dù áp dụng phƣơng pháp nào cũng cần tôn trọng dấu ấn lịch sử - văn hóa vốn có của DT, nghĩa là không đƣợc làm trẻ hơn hoặc cũ đi.
Thứ ba, phải nghiên cứu toàn diện trước khi tu sửa DT: “để tiến hành tu sửa DT phải nghiên cứu toàn diện mọi mặt DT, nghiên cứu các loại DT cùng thời với nó để thấy đƣợc kiểu dáng thời đại, đó cũng là những tƣ liệu bổ sung so sánh bổ ích cho việc lập đồ án tu sửa DT”.181] Thứ tư, phải chú ý thận trọng đối với các lớp làm thêm sau này nếu chúng có giá trị lịch sử hoặc giá trị thẩm mỹ. Có nhiều quần thể DT chứa những công trình đƣợc xây dựng và hình thành trong nhiều thời đại khác nhau. Do đó một nguyên tắc đặt ra không vội vàng gạt bỏ mọi yếu tố không cùng thời đại song có giá trị về mặt khoa học, lịch sử, nghệ thuật; mà phải giữ gìn để duy trì tỷ lệ thích ứng và môi trƣờng lịch sử quanh DT, góp phần đảm bảo tính nguyên gốc.182] Thứ năm, khi lập kế hoạch bảo tồn cơ quan chỉ đạo tu sửa DT không được phụ thuộc vào các nguyên nhân khách quan nhƣ: vấn đề hạn chế tài chính, khả năng kinh doanh từ DT sau khi trùng tu. mà cần dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học và tính cấp thiết phải bảo tồn DT.
23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bên cạnh những nguyên tắc chung về bảo tồn văn hóa, còn có các nguyên tắc riêng khi tiến hành bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể. Di sản văn hóa phi vật thể là cái không thể nhìn thấy mà chỉ cảm nhận đƣợc, đồng thời rất dễ bị hao mòn theo thời gian. Do đó cần thiết phải tìm ra nguyên tắc bảo tồn hợp lý và hiệu quả nhất cho thành phần văn hóa này. Nguyên tắc đầu tiên là vật thể hóa di sản văn hóa phi vật thể.
Nguyên tắc này sẽ triển khai thông qua công tác điều tra, sƣu tầm, ghi chép lại các kỹ năng, kỹ thuật, nghệ thuật, những bí quyết và kinh nghiệm do nghệ nhân sử dụng trong chế tác các sản phẩm thủ công hoặc trình diễn các loại hình nghệ thuật truyền thống bằng việc ghi chép, ghi âm và ghi hình. Ngày nay có thể sử dụng các thiết bị khoa học hiện đại vào việc lƣu giữ di sản văn hóa phi vật thể giúp đem lại những hiệu quả vƣợt trội, từ đó cho phép hình thành các kho lƣu trữ, các ngân hàng dữ liệu, bảo tàng, trung tâm nghiên cứu, viện nghiên cứu không chỉ phục vụ công việc bảo tồn mà cả việc nghiên cứu lâu dài. Nguyên tắc bảo tồn sống: lƣu giữ các hiện tƣợng văn hóa phi vật thể ngay trong môi trƣờng sản sinh ra chúng. Đây cũng là nguyên tắc đƣợc UNESCO và nhiều quốc gia trên thế giới đề xuất.
Nguyên tắc này chính là thƣớc đo tốt nhất nhằm chứng minh hiệu quả của công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể. Cần lưu giữ di sản văn hóa phi vật thể trong cộng đồng bằng cách tái lập môi trường sống cho di sản. Có thể tiến hành bằng cách thành lập các câu lạc bộ sinh hoạt tại địa phƣơng, các tổ truyền nghề, các cuộc thi tìm hiểu và trình diễn di sản dân tộc. Không thể bỏ qua các nghệ nhân, những ngƣời giữ trọng trách nuôi dƣỡng di sản văn hóa phi vật thể, cũng đƣợc xem nhƣ là báu vật nhân văn sống.
Do đó, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể cũng đồng nghĩa với việc khích lệ và tạo điều kiện để các nghệ nhân tiếp tục kế thừa di sản. Thực tế ở nƣớc ta đã chứng minh rằng: “chỉ cần những ngƣời kế thừa di sản văn hóa phi vật thể vẫn còn sống thì những di sản văn hóa truyền thống sẽ không bị biến mất; chỉ cần những ngƣời kế thừa di sản văn hóa phi vật thể vẫn còn tràn đầy sức sống thì di sản văn hóa phi vật thể sẽ không ngừng đƣợc sáng tạo trong quá trình trao truyền và kế 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thừa; chỉ cần những ngƣời kế thừa di sản văn hóa phi vật thể vẫn thu nhận đồ đệ để truyền nghề, thì di sản văn hóa phi vật thể có ngƣời kế thừa, kéo dài mãi mãi”. Bảo tồn văn hóa trong du lịch Văn hóa di sản và du lịch luôn có mối quan hệ cộng sinh. Những năm gần đây du lịch đã trở thành hiện tƣợng kinh tế xã hội ở hầu hết các nƣớc trên thế giới trong đó có Việt Nam.
Nhiều chƣơng trình du lịch văn hóa ra đời là một minh chứng cho tầm quan trọng của di sản văn hóa và mối quan hệ giữa du lịch với văn hóa. Du lịch không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần giới thiệu về văn hóa và con ngƣời với cộng đồng quốc tế, góp phần bảo tồn văn hóa. Nghiên cứu và phát triển du lịch đang là vấn đề đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan tâm vì xác định đây là ngành kinh tế mũi nhọn, điều này đƣợc khẳng định thông qua các chủ trƣơng, chính sách của Đảng. Phát biểu tại lễ kỷ niệm lần thứ 45 ngày thành lập ngành du lịch Việt Nam và đón Huân chƣơng Hồ Chí Minh, đồng chí Vũ Khoan đã chỉ rõ: “Du lịch Việt Nam đã thực sự trở thành ngành kinh tế ngày càng quan trọng.
đem lại hàng tỉ đô la cho đất nƣớc, tạo nên hàng triệu việc làm cho ngƣời lao động. Hơn thế nữa, du lịch là một cách xuất khẩu tại chỗ, góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu, là ngành kinh tế mũi nhọn của kinh tế đất nƣớc.