Chương 1 CÔNG TÁC BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG CỦA TỈNH TUYÊN QUANG TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2001 1. Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và hệ thống di tích lịch sử cách mạng tỉnh Tuyên Quang 1. Về điều kiện tự nhiên Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, vị trí địa lý từ 21°29’ đến 22°42’ độ vĩ bắc và 104°50’ đến 105°36’ độ kinh đông; phía Bắc giáp Hà Giang, phía Nam giáp Phú Thọ và Vĩnh Phúc, phía Đông giáp Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, phía Tây giáp Yên Bái. Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 582.002 ha trong đó 20% là đất nông nghiệp, 73,2% là đất lâm nghiệp (424.374 ha) còn lại là 6,8% là các loại đất khác.
Toàn bộ thổ nhưỡng Tuyên Quang dễ bị xói mòn, phần lớn đất đai không thấm nước, có đất xét và cấu thành granít, có nơi có đá vôi, đá xít [1, tr. Tính đến năm 2010, Tuyên Quang có 5 huyện, 1 thị xã với 137 xã, 3 phường và 5 thị trấn, trong đó có 51 xã và 72 thôn bản nằm trong vùng đặc biệt khó khăn. Là tỉnh nằm sâu trong nội địa, cách xa các trung tâm kinh tế - thương mại lớn của cả nước, Tuyên Quang chưa có đường sắt và sân bay vì vậy việc thông thương sang các tỉnh khác và ra nước ngoài nhờ vào hệ thống đường Quốc lộ 2, Quốc lộ 37 và giao thông đường thủy trên sông Lô. Địa hình Tuyên Quang khá phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều dãy núi cao và sông suối, đặc biệt ở phía Bắc tỉnh.
Phía Nam tỉnh, địa hình thấp dần, ít bị chia cắt hơn, có nhiều đồi núi và thung lũng chạy dọc theo các sông. Có thể chia Tuyên Quang thành 3 vùng địa hình sau: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vùng núi phía Bắc bao gồm: các huyện Na Hang, Chiêm Hoá, Hàm Yên và phía Bắc huyện Yên Sơn, có độ cao phổ biến từ 200 - 600m (so với mực nước biển) và giảm dần xuống phía Nam, độ dốc trung bình 25°. Vùng đồi núi giữa gồm: phía Nam huyện Yên Sơn, thị xã Tuyên Quang và phía Bắc huyện Sơn Dương, độ cao trung bình dưới 500m và thấp dần từ Bắc xuống Nam, độ dốc thấp dần dưới 25°. Vùng đồi núi phía Nam là vùng thuộc phía Nam huyện Sơn Dương, mang đặc điểm địa hình trung du.
Tuyên Quang mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt: mùa đông lạnh - khô hanh; mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều. Đặc điểm khí hậu này thích ứng cho sự sinh trưởng, phát triển của các loại cây trồng nhiệt đới. Nhiệt độ trung bình trong năm từ 22 - 24°C, lượng mưa trung bình từ 1.800 mm; độ ẩm trung bình là 85%. Hệ thống sông suối của Tuyên Quang khá dày đặc, phân phối tương đối đều giữa các vùng, trong đó sông Lô có khả năng vận tải tốt, đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển giao thông đường thuỷ Do điều kiện nóng ẩm, mưa nhiều làm lớp vỏ phong hoá của đất Tuyên Quang tương đối dày, cộng với thảm thực vật còn khá có tác dụng bảo vệ mặt đất nên sự thoái hoá của đất ở mức độ nhẹ.
Đất Tuyên Quang có các nhóm chính: đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất; đất vàng nhạt trên đá cát; đất đỏ vàng trên đá macma; đất vàng đỏ trên đá biến chất; đất phù sa ven suối; đất dốc tụ - thung lũng; ngoài ra còn có một số loại đất khác chiếm diện tích nhỏ: đất nâu vàng, đất mun màu vàng, đất nâu đỏ, đất phù sa không được bồi đắp… Tóm lại, tài nguyên đất của Tuyên Quang hết sức phong phú về chủng loại, chất lượng tương đối tốt, thích ứng với các loại cây trồng. Tổng diện tích rừng Tuyên Quang có khoảng 357.354 ha, trong đó rừng tự nhiên là 287.606 ha và rừng trồng là 69. Độ che phủ của rừng đạt 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Rừng Tuyên Quang có nhiều loại gỗ tốt như: đinh, lim, sến, táu, nghiến, lát, pơmu… và bạt ngàn tre, nứa, song, mây… cùng các cây dược liệu như: sa nhân, ba kích, thục, sâm… các đặc sản như: nấm hương, mộc nhĩ, mật ong… cùng nhiều loài muông thú: hổ, báo, gấu, trăn, tắc kè, đặc biệt là voọc mũi hếch - một loại thú có tên trong danh mục bảo vệ động vật hiếm trên thế giới.
Lòng đất Tuyên Quang chứa nhiều khoáng sản: vàng, thiếc, kẽm, barít, pisít, ăngtimoan, mănggan, cao lanh…, thiên nhiên có sẵn các loại cát, sỏi, đá vôi, đất chịu lửa… Đó là nguồn tài nguyên khoáng sản vô giá, cho phép địa phương phát triển, làm giàu bằng ngành công nghiệp khai thác mỏ và sản xuất vật liệu xây dựng. Nhìn một cách tổng thể vị thế và điều kiện tự nhiên của Tuyên Quang mặc dù đã để lại nhiều khó khăn trong quá trình đi lên của tỉnh, nhưng cũng chính nó lại tạo ra những ưu thế riêng cho phát triển kinh tế, xã hội. Về kinh tế - xã hội Tuyên Quang phát triển chủ yếu là nền kinh tế theo cơ cấu nông, lâm nghiệp - công nghiệp chế biến - dịch vụ, đặc biệt là phát triển chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò, dê, ngựa.), trồng cây công nghiệp và cây dược liệu (chè, cà phê, mía, lạc, đỗ, quế, sa nhân, sả.) cùng các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao (cam, nhãn, vải, hồng, na.) Ngoài chăn nuôi, trồng trọt là nghề chính, Tuyên Quang còn có nhiều nghề thủ công khác như: khai thác, chế biến nông, lâm sản, đồ dùng sinh hoạt và dược liệu, thêu dệt Trong giai đoạn 1996 - 2000 nhịp độ tăng trưởng kinh tế (GDP) hàng năm đạt 8,78%. Bình quân lương thực đạt 383 kg/người/năm.
Tỷ lệ hộ đói nghèo theo tiêu chuẩn mới của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội là 12,5%. GDP tăng bình quân 5 năm (2005 - 2010) đạt 13,53%. Cơ cấu kinh tế 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chuyển dịch đúng hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông lâm nghiệp trong GDP. Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp đạt mức tăng trưởng khá, có sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, bước đầu hình thành một số vùng sản xuất tập trung chuyên canh theo hướng sản xuất hàng hoá.
Chăn nuôi có bước phát triển, hàng năm đàn bò tăng 17,8%, đàn lợn tăng 6%, đàn gia cầm tăng 9,9%; đàn bò sữa HF thuần chủng có trên 4.000 con; đàn bò thịt cao sản Brahman 1. Sản lượng lương thực hàng năm đều tăng, năm 2009, tổng sản lượng lương thực đạt 32,9 vạn tấn, đạt 102,6% kế hoạch năm, tăng 1,3% so với năm 2008. Công tác trồng rừng được chú trọng, thực hiện cơ chế liên doanh trồng rừng nguyên liệu để nâng cao hiệu quả kinh tế rừng.954 ha rừng, độ che phủ của rừng đạt 63%. Tỉnh đã đầu tư, nâng cấp, quản lý và sử dụng có hiệu quả các công trình thủy lợi.
Hệ thống giao thông vận tải đường bộ phát triển mạnh. Đến năm 2005, 100% xã phường, thị trấn, 96,3% thôn bản có đường ô tô đến trung tâm. Mạng lưới bưu chính, viễn thông tiếp tục phát triển, 100% trung tâm huyện, thị phủ sóng điện thoại di động; 100% xã, phường, thị trấn có điện thoại, mật độ 4,8 máy/100 người dân. Kim ngạch xuất khẩu năm 2005 đạt 8,4 triệu USD, tăng bình quân 10,1%/ năm.
Một số mặt hàng xuất khẩu tăng nhanh như bột barit, gỗ chế biến. Tuyên Quang có 22 dân tộc anh em. Người Kinh chiếm 50,18%, cư trú khắp địa bàn tỉnh, tập trung đông nhất ở thị xã Tuyên Quang, huyện Yên Sơn, huyện Sơn Dương. Những nơi vùng sâu vùng xa thường tập trung đồng bào dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp, bị ảnh hưởng nhiều phong tục tập quán cũ không phù hợp với hiện nay.
Vì vậy, chính quyền địa phương đã có biện 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp phù hợp để phát triển kinh tế nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc ít người, giữ gìn bản sắc vốn có. Cũng chính có sự góp mặt của các dân tộc anh em trên địa bàn tỉnh đã tạo cho đời sống văn hóa của đồng bào tỉnh Tuyên Quang sự đa dạng và phong phú với những điệu hát Then, Gọi, Sli, Sình ca. các hội Lồng Tông, những đường nét tinh xảo, duyên dáng của hoa văn trên những tấm thổ cẩm, vải, hàng mây tre đan và đồ trang sức đã thể hiện sinh động, đặc sắc đời sống tinh thần của mỗi dân tộc, mỗi vùng. Bên cạnh những thuận lợi và thế mạnh cơ bản, Tuyên Quang vẫn là một tỉnh nghèo, không ít khó khăn: kinh tế phát triển chậm, trình độ sản xuất còn thấp kém và mang nặng tính tự cung tự cấp.
Thế mạnh về cây công nghiệp, chăn nuôi chưa được khai thác tốt. Công nghiệp chưa phát triển, chỉ chiếm 14% giá trị tổng sản phẩm xã hội; thu nhập bình quân đầu người còn thấp xa so với mức bình quân của cả nước. Thu ngân sách trên địa bàn tỉnh mới đảm bảo được 25 - 30% nhu cầu chi thường xuyên. Đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn.
Sự lãnh đạo, quản lý của cấp uỷ, chính quyền các cấp trong chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường còn lúng túng. Trình độ cán bộ, đảng viên chưa được nâng lên kịp thời với yêu cầu của tình hình nhiệm vụ đặt ra; còn một bộ phận giảm sút ý chí chiến đấu, ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Hệ thống các di tích lịch sử cách mạng chủ yếu ở Tuyên Quang Tuyên Quang là tỉnh có hệ thống các di tích lịch sử cách mạng với mật độ dày đặc nhất ở 3 huyện Sơn Dương, Chiêm Hóa, Yên Sơn. Trong đó những di tích thuộc huyện Sơn Dương và Yên Sơn nằm trong hệ thống di tích lịch sử cách mạng hiện được quản lý bởi Ban quản lý Khu du lịch lịch sử, văn hóa và sinh thái Tân Trào.
Những di tích ở huyện Chiêm Hóa nằm dưới sự 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quản lý của Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang. Ngày 21/12/1975, KDT Tân Trào đã vinh dự được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử và trở thành một trong những di tích lịch sử đặc biệt quan trọng của Quốc gia. Tỉnh Tuyên Quang có 512 di tích lịch sử, văn hóa, trong đó có 443 di tích lịch sử cách mạng và kháng chiến, ghi dấu những địa điểm Bác Hồ, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các Bộ, Ban, Ngành Trung ương ở và làm việc.