chương I “Những qui định chung” của Bộ luật di sản văn hoá năm 2001 có định nghĩa thuật ngữ Di sản văn hoá phi vật thể như sau: 1. Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác. -Khoản 1 điều 4 “Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật di sản văn hoá” năm 2009 có định nghĩa di sản văn hoá phi vật thể như sau: Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. -Theo Tiến sĩ Nguyễn Toàn Thắng trong bài viết về “ Bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá trong xu thế giao lưu hội nhập bài học nhìn từ một số quốc gia châu Á” đăng trên tạp chí Di sản văn hoá số số 1(42)-2013 có giải thích Di sản văn hoá phi vật thể (Intangible culture) là: dạng thức tồn tại của văn hoá tiềm ẩn trong trí nhớ, ký ức cộng đồng, tập tính, hành vi ứng xử của con người và thông qua các hoạt động của con người trong sản xuất, giao tiếp xã hội mà thể hiện ra.
Từ đó, người ta có thể nhận biết được sự tồn tại của văn hoá. Đặc trưng rõ nhất của văn hoá phi vật thể là nó luôn chìm khuất trong tâm thức của một cộng đồng xã hội và chỉ bộc lộ ra 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com qua hành vi và hoạt động của con người. Văn hoá phi vật thể được lưu giữ trong thế giới tinh thần và được bộc lộ sinh động thông qua các hình thức diễn xướng trong tư cách một hiện tượng văn hoá. Theo Tiến sĩ Đặng Văn Bài- nguyên cục trưởng Cục Di sản Văn hoá thuộc Bộ Văn hoá Thể thao Du lịch trong bài viết về “Bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể góc nhìn toàn cầu hoá” đăng trên địa chỉ website: http://www.vn/pages/news/preview.aspx?n=391&c=63 của Cục Di sản Văn hóa có định nghĩa về di sản văn hoá phi vật thể như sau: Di sản văn hóa phi vật thể là cái vô hình, chỉ được lưu truyền và biểu hiện bằng hình thức truyền miệng, truyền nghề và các dạng bí quyết nghề nghiệp khác.
Theo tác giả Đào Duy Anh (2012), trong cuốn “Việt Nam văn hóa sử cương”, nxb Hồng Đức, định nghĩa từ văn hóa phi vật thể là sinh hoạt của con người trong môi trường xã hội. Qua các định nghĩa trên, chúng tôi có thể tóm lại một số nét chính về định nghĩa về di sản văn hóa phi vật thể như sau: Di sản văn hóa phi vật thể là cái vô hình, là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan hoặc là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác, hay là dạng thức tồn tại của văn hoá tiềm ẩn trong trí nhớ, ký ức cộng đồng, tập tính, hành vi ứng xử của con người và thông qua các hoạt động của con người trong sản xuất, giao tiếp xã hội mà thể hiện ra. Từ đó, người ta có thể nhận biết được sự tồn tại của văn hoá. Nó cũng là sản phẩm của sinh hoạt con người trong môi trường xã hội.
“Bảo tồn” -Theo từ điển tiếng Việt online tại địa chỉ website : 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com http://tratu.vn/dict/vn_vn/bao_ton thì: Bảo tồn được định nghĩa là: Gìn giữ (cái có ý nghĩa lịch sử thuộc tài sản chung), không để bị mất mát, tổn thất. Ví dụ như: bảo tồn một di tích lịch sử, bảo tồn nền văn hoá dân tộc, bảo tồn động vật quý hiếm. Đồng nghĩa: bảo tàng. - Theo Nguyễn Như Ý (1998), trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt, nxb Văn hoá thông tin có giải nghĩa Bảo tồn như sau: Bảo tồn: là giữ nguyên hiện trạng, không để mất đi: bảo tồn di tích lịch sử; bảo tồn nền văn hoá dân tộc.
Bảo tồn bảo tàng: Sưu tầm, tàng trữ, giữ gìn, bảo quản các tài liệu, hiện vật có giá trị lịch sử. -Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Mỹ Liêm, Phó hiệu trưởng Nhạc viện Thành phố Hồ chí Minh trong tham luận về “Bảo tồn và phát huy hay kế thừa và phát triển âm nhạc dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hoá” tại Hội thảo “Âm nhạc cổ truyền dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hoá” do Viện Âm nhạc Việt Nam tổ chức tháng 8/2004 có trích dẫn định nghĩa của PGS Tô Vũ về bảo tồn như sau: Bảo tồn là giữ lại nguyên vẹn đối tượng cần bảo tồn và đối tượng ấy phải là tinh hoa, là giá trị đích thực, có khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng khác nhau… (PGS. Âm nhạc Việt Nam truyền thống và hiện đại, nxb Viện âm nhạc, tr. Qua phân tích các định nghĩa ở trên, chúng ta thấy bảo tồn là gìn giữ, không để mất mát, hoặc giữ nguyên dạng hay tương đối nguyên dạng đối tượng cần bảo tồn.
Với điều kiện đối tượng ấy phải là tinh hoa, là giá trị đích thực, có khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng khác nhau. “Truyền bá ” - Theo Nguyễn Như Ý (1998), trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt, nxb Văn hoá thông tin có giải nghĩa thuật ngữ truyền bá như sau: Phổ biến rộng ra cho nhiều người, nhiều nơi: truyền bá kiến thức khoa học; truyền bá tư tưởng cách mạng; truyền bá đạo phật. “Phát huy” - Theo Nguyễn Như Ý (1998), trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt, nxb Văn hoá thông tin có giải nghĩa thuật ngữ phát huy như sau: Phát huy là làm cho cái hay, cái tốt nhân thêm tác dụng, thúc đẩy tiếp tục nảy nở nhiều hơn: Phát huy sức mạnh 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tập thể để hoàn thành nhiệm vụ; phát huy ưu điểm; phát huy truyền thống quê hương. - Cũng theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Mỹ Liêm, Phó hiệu trưởng Nhạc viện Thành phố Hồ chí Minh trong tham luận về “Bảo tồn và phát huy hay kế thừa và phát triển âm nhạc dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hoá” tại Hội thảo “Âm nhạc cổ truyền dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hoá” do Viện Âm nhạc Việt Nam tổ chức tháng 8/2004 có trích dẫn định nghĩa của PGS Tô Vũ về phát huy như sau: Phát huy là làm cho những giá trị văn hoá âm nhạc được bảo tồn nảy nở.
Đối với âm nhạc cổ truyền “bảo tồn” là tiền đề cho “phát huy”, “bảo tồn” là để “phát huy”. Chúng tôi nhấn mạnh “bảo tồn” là giữ lại, không để mất đi, không thay đổi, biến hoá đối tượng được bảo tồn. “Phương thức” Theo các từ điển tiếng Việt ở địa chỉ: Tratu.vn, từ điển http://vi.org/wiki/ và http://vdict.com/ thì, Phương thức: là cách thức và phương pháp tiến hành. Phương thức đấu tranh.
Phương thức trả lương theo sản phẩm. Quan điểm của Đảng về việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá phi vật thể của Việt Nam Nếu như các công ước, tuyên bố, khuyến nghị của quốc tế và các văn bản pháp luật của Việt Nam về việc bảo tồn các di sản văn hoá phi vật thể có tính ràng buộc các chính phủ, tổ chức và người dân phải tuân theo trong việc bảo vệ các di sản văn hoá, thì quan điểm của Đảng CSVN, tư tưởng Hồ chí Minh về bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể âm nhạc Việt Nam, truyền thông đại chúng với việc bảo tồn các di sản văn hoá phi vật thể của Việt Nam lại mang tính định hướng việc bảo tồn các di sản văn hoá phi vật thể của Việt Nam. Đây cũng là “kim chỉ nam” cho những người làm công tác văn hoá, nghệ thuật, nhà báo, nhà quản lý văn hóa thực hiện công việc của mình. Đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng CSVN Đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng CSVN không chỉ là một môn học quan trọng, được giảng dạy trong các trường Văn hoá Nghệ thuật trong cả nước mà 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com còn là nền tảng cho việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tạo nên sự đa dạng văn hoá, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực phát triển của đất nước.
Theo nguyên bộ trưởng Bộ Văn hoá Thông tin và Thể thao Trần Hoàn trong giáo trình đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng CSVN, nxb Văn hóa thông tin năm 1995, cho biết về quá trình hình thành và phát triển của đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng CSVN như sau: “ Bắt nguồn từ lý luận của chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các bậc tiền bối, đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng luôn luôn nhất quán và được hình thành, hoàn thiện từng bước từ “Luận cương chính trị của Đảng năm 1930”, “Đề cương văn hoá năm 1943” và nghị quyết của các Đại hội Đảng… Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước về văn hoá văn nghệ là hết lòng chăm sóc tài năng, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, khuyến khích sáng tạo những sản phẩm lành mạnh, có giá trị tư tưởng nghệ thuật cao”.