Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khu hệ thực vật Việt Nam được đánh giá là giàu tài nguyên bậc nhất khu vực Đông Nam Á với khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó gần 4.000 loài có công dụng làm thuốc theo các công bố của Viện Dược liệu và các nhà thực vật học. Tuy nhiên, sự suy thoái diện tích rừng tự nhiên, áp lực chuyển đổi đất nông - lâm nghiệp, khai thác khoáng sản và tập quán khai thác hủy diệt (đào cả rễ, củ) đang đe dọa nghiêm trọng tới nguồn gen cây thuốc bản địa và tri thức y học dân gian gắn liền với cộng đồng các dân tộc thiểu số.

Xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên nằm trong vùng lõi và vùng đệm của Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, sở hữu diện tích tự nhiên 10.262,46 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm tới 9.037,58 ha (tương đương 88,06%). Địa hình tại đây đặc trưng bởi hệ thống núi đá vôi hiểm trở dạng bát úp xen kẽ thung lũng, độ ẩm bình quân 82% và lượng mưa trung bình 1.695,9 mm/năm, tạo môi trường thuận lợi cho sự sinh trưởng của nhiều loài dược liệu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nơi đây là địa bàn cư trú của 6 dân tộc anh em (Tày, Dao, Mông, Nùng, Kinh, Sán Dìu), trong đó người Tày và người Dao chiếm tỷ lệ lớn với kho tàng tri thức bản địa phong phú về sử dụng cây cỏ làm thuốc. Dù vậy, các hoạt động khai thác vàng sa khoáng trái phép trước đây tại các khu vực Hẻm núi Cô Tiên, hang Rắn, Boong Xay, vũng Tu Lườn, cùng với hiện tượng thương lái thu mua dược liệu thô chưa qua kiểm soát đã khiến nhiều loài cây thuốc quý đứng trước nguy cơ cạn kiệt. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Miền được thực hiện nhằm ghi nhận, hệ thống hóa nguồn tài nguyên thực vật làm thuốc và tri thức dân gian tại địa bàn.

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua 3 nội dung:

  1. Xác định được tính đa dạng tài nguyên cây thuốc tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (đa dạng về taxon, dạng sống, môi trường sống và các loài thuộc diện ưu tiên bảo tồn).
  2. Xác định được thực trạng khai thác, sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày và Dao tại xã Thần Sa (bộ phận dùng, công dụng trị liệu, đặc điểm người nắm giữ tri thức).
  3. Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc nói riêng và hệ thực vật nói chung tại khu vực nghiên cứu.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các loài thực vật có mạch được cộng đồng dân tộc Tày và dân tộc Dao tại xã Thần Sa sử dụng làm thuốc phòng, chữa bệnh và tập quán sử dụng dược liệu của người dân địa phương.
  • Không gian nghiên cứu: Khảo sát phỏng vấn và điều tra thực địa tại 9 xóm thuộc xã Thần Sa, bao gồm: Trung Sơn, Kim Sơn, Hạ Sơn Tày, Hạ Sơn Dao, Xuyên Sơn, Ngọc Sơn 1, Ngọc Sơn 2, Tân Kim, Thượng Kim.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/2019 đến tháng 05/2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng các chủ trương, chính sách quản lý y dược học cổ truyền và bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam, tiêu biểu là Chỉ thị số 24/CT-TW ngày 04/07/2008 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về "Phát triển nền đông y Việt Nam và Hội Đông y Việt Nam trong tình hình mới", Quyết định ngày 30/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động phát triển y, dược cổ truyền Việt Nam đến năm 2020. Ở bình diện quốc tế, đề tài kế thừa các khung hướng dẫn bảo tồn cây thuốc của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN), Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) ban hành năm 1993, Hướng dẫn thực hành tốt nuôi trồng và thu hái dược liệu (GACP-WHO, 2003) và Tuyên bố Alma-Ata (1978).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập số liệu bao gồm:

  • Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập và tổng hợp bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ địa hình xã Thần Sa và Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng; báo cáo quản lý bảo vệ rừng hàng năm của Hạt Kiểm lâm và chính quyền xã; tài liệu thống kê kinh tế - xã hội địa phương.
  • Phương pháp điều tra xã hội học và phỏng vấn dân tộc học thực vật: Sử dụng phiếu điều tra cấu trúc để phỏng vấn trực tiếp 50 người, trong đó gồm 11 cán bộ xã/xóm/kiểm lâm, 5 thầy lang bản địa và 34 người dân thường xuyên đi rừng tại 9 xóm (mỗi xóm chọn 4-5 hộ tiêu biểu). Nội dung phỏng vấn ghi nhận tên địa phương, bộ phận dùng, công dụng, cách chế biến, liều dùng và cách thức thu hái.
  • Phương pháp điều tra thực địa theo tuyến: Thiết lập các tuyến khảo sát thực địa dựa trên đường mòn dân sinh, khe suối, chân núi đá vôi, sườn đồi và rừng tự nhiên dưới sự dẫn đường của các thầy lang. Khoảng cách giữa các tuyến cách nhau từ 1 đến 2 km để bao quát các sinh cảnh khác nhau. Tại mỗi tuyến, tiến hành thu thập mẫu vật, ghi nhận dạng sống, sinh cảnh, chụp ảnh và định vị.
  • Phương pháp giám định mẫu vật: So sánh, đối chiếu hình thái cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản của mẫu thu thập với các bộ khóa phân loại trong các công trình chuyên khảo: "Cây cỏ Việt Nam" (Phạm Hoàng Hộ), "Thực vật chí Việt Nam", "Thực vật chí Đông Dương", "Từ điển cây thuốc Việt Nam" (Võ Văn Chi) và đối chiếu với mẫu chuẩn tại phòng tiêu bản, kết hợp tham vấn chuyên gia phân loại thực vật thuộc Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
  • Phương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân (PRA): Đánh giá tương tác giữa đời sống cộng đồng với tài nguyên rừng, phân tích nguyên nhân làm suy thoái nguồn gen cây thuốc.
  • Xử lý số liệu: Nhập, thống kê tần số xuất hiện và phân tích cơ cấu taxon bằng phần mềm Microsoft Excel và SPSS.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu rõ tính cấp thiết của việc nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc tại địa bàn miền núi đá vôi. Văn bản khẳng định rằng y học dân gian là nguồn chăm sóc sức khỏe thiết yếu tại chỗ cho đồng bào vùng cao khi điều kiện tiếp cận tây y còn hạn chế. Tuy nhiên, nguồn dược liệu tự nhiên đang suy giảm do mất rừng và khai thác quá mức. Phần này xác định 3 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dẫn liệu thực vật học cho tỉnh Thái Nguyên và ý nghĩa thực tiễn trong công tác quản lý tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn Thần Sa - Phượng Hoàng.

Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Phần này hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Trên thế giới: Tổng kết lịch sử sử dụng dược liệu từ các công trình cổ điển như "Bản thảo cương mục" (Lý Thời Trân), các nghiên cứu của WHO, WWF, ước tính toàn cầu có khoảng 35.000 loài thực vật làm thuốc. Các báo cáo của WHO chỉ ra 80% dân số các nước đang phát triển phụ thuộc vào y học cổ truyền.
  • Tại Việt Nam: Khái quát các giai đoạn thống kê cây thuốc từ năm 1952 (1.350 loài tại Đông Dương) đến năm 2005 (3.948 loài thuộc 307 họ do Viện Dược liệu công bố) và 4.700 loài (Võ Văn Chi, 2012). Tổng quan các công trình nghiên cứu tại các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn như Pù Mát, Chư Yang Sin, Hoàng Liên, Bạch Mã, Tam Đảo.
  • Địa bàn xã Thần Sa: Trình bày chi tiết điều kiện tự nhiên với diện tích 10.262,46 ha, độ che phủ rừng cao (88,06%), nhiệt độ bình quân 24°C, biên độ nhiệt từ 14,9°C (tháng 1) đến 27,8°C (tháng 6-8). Cơ cấu xã hội gồm 6 dân tộc với 562 hộ, 2.442 nhân khẩu (năm 2014), kinh tế chủ yếu là thuần nông và lâm nghiệp, còn nhiều khó khăn do nằm trong diện xã 135.

Phần 3: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đối tượng là cây thuốc được 2 dân tộc Tày và Dao sử dụng tại 9 xóm thuộc xã Thần Sa từ tháng 12/2019 đến tháng 05/2020. Văn bản mô tả quy trình phỏng vấn bán cấu trúc 50 người, phương pháp lập tuyến thực địa không lặp lại, quy trình thu mẫu tiêu bản và khóa định danh thực vật học. Khung bảng hỏi điều tra cây thuốc được thiết kế chuẩn mực với các tiêu chí: tên địa phương, tên khoa học, dạng sống, môi trường sống, bộ phận sử dụng, cách thu hái, tình trạng sử dụng và bài thuốc phối ngũ.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này công bố toàn bộ số liệu điều tra thu được tại hiện trường:

  • Đa dạng bậc ngành và lớp: Ghi nhận 118 loài thực vật làm thuốc thuộc 99 chi và 56 họ, nằm trong 2 ngành thực vật có mạch:
    • Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta): Chiếm ưu thế tuyệt đối với 55 họ (98,21% tổng số họ), 98 chi (98,99% tổng số chi) và 117 loài (99,15% tổng số loài). Trong đó, lớp Hai lá mầm (Magnoliopsida) chiếm ưu thế áp đảo với 44 họ (78,57%), 82 chi (82,83%) và 100 loài (84,75%). Lớp Một lá mầm (Liliopsida) ghi nhận 11 họ (19,64%), 16 chi (16,16%) và 17 loài (14,41%).
    • Ngành Dây gắm (Gnetophyta): Chỉ có duy nhất 1 họ (Gnetaceae), 1 chi (Gnetum) và 1 loài là Dây gắm hay Gắm núi (Gnetum montanum), chiếm 0,85% tổng số loài.
  • Đa dạng bậc họ:
    • Không có họ nào đạt trên 10 loài.
    • Họ Cúc (Asteraceae) có số loài nhiều nhất với 7 loài (chiếm 5,94% tổng số loài của khu vực, chiếm 1,84% so với tổng số 380 loài họ Cúc ở Việt Nam).
    • Có 3 họ đạt 6 loài: Họ Cà phê (Rubiaceae - chiếm 1,22% so với 492 loài ở VN), họ Dâu tằm (Moraceae - chiếm 3,35% so với 179 loài ở VN) và họ Thầu dầu (Euphorbiaceae - chiếm 1,26% so với 477 loài ở VN).
    • Có 5 họ đạt 4 loài (chiếm 8,93% số họ và 16,95% số loài): Araceae, Acanthaceae, Verbenaceae, Rutaceae, Araliaceae.
    • Có 6 họ đạt 3 loài (chiếm 10,71% số họ và 15,25% số loài): Malvaceae, Apocynaceae, Lamiaceae, Myrsinaceae, Fabaceae, Icacinaceae.
    • Có 14 họ đạt 2 loài (chiếm 25,00% số họ và 23,73% số loài).
    • Có 27 họ chỉ ghi nhận 1 loài (chiếm 48,21% số họ và 22,88% số loài).
  • Đa dạng bậc chi: Tổng cộng 99 chi. Có 13 chi phong phú nhất chiếm 29 loài. Trong đó, 3 chi có số loài cao nhất (mỗi chi có 3 loài, tương đương 2,54% tổng số loài) là: chi Blumea (họ Cúc), chi Clerodendrum (họ Cỏ roi ngựa) và chi Ficus (họ Dâu tằm). 10 chi ghi nhận 2 loài (1,69%/chi) gồm: Rhaphidophora, Justicia, Bauhinia, Psychotria, Mussaenda, Croton, Maesa, Tacca, Stixis, Illigera.
  • Giá trị trị liệu của các loài tiêu biểu: Văn bản ghi nhận nhiều loài có giá trị chữa bệnh cao như Ba chạc (Euodia lepta) dùng chữa bại liệt, di chứng tai biến, làm nước tắm cho phụ nữ sau sinh, xông cảm; Thầu dầu (Ricinus communis) chữa bệnh xương khớp; Hà thủ ô nam (Streptocaulon juventas) chữa bệnh răng miệng, hôi miệng; Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum) hạ mỡ máu, trợ tim mạch; Sa nhân (Amomum villosum) kích thích tiêu hóa; Thủy xương bồ (Acorus calamus) làm nước tắm người ốm và sản phụ; Hoàng tinh hoa trắng (Disporopsis longifolia) làm thuốc bổ huyết; Trương quân (Ancistrocladus scandens), Lưỡi cọp sọc (Sansevieria trifasciata).

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn bộ các chỉ số về thành phần loài, họ, chi đã phát hiện tại Thần Sa. Tác giả kiến nghị chính quyền địa phương, Ban Quản lý Khu bảo tồn Thần Sa - Phượng Hoàng và ngành lâm nghiệp cần tăng cường kiểm soát việc khai thác dược liệu tự nhiên, hỗ trợ nhân dân nhân giống thuần hóa các loài quý bản địa và bảo tồn tri thức dân gian của người Tày, người Dao.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã định danh và lập danh lục cụ thể cho 118 loài cây thuốc thuộc 99 chi, 56 họ của 2 ngành thực vật có mạch tại xã Thần Sa. Cấu trúc taxon của nguồn cây thuốc được tổng hợp trong bảng dưới đây:

Ngành thực vật / Lớp Số họ Tỷ lệ họ (%) Số chi Tỷ lệ chi (%) Số loài Tỷ lệ loài (%)
Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) 55 98,21 98 98,99 117 99,15
- Lớp Hai lá mầm (Magnoliopsida) 44 78,57 82 82,83 100 84,75
- Lớp Một lá mầm (Liliopsida) 11 19,64 16 16,16 17 14,41
Ngành Dây gắm (Gnetophyta) 1 1,79 1 1,01 1 0,85
- Lớp Dây gắm (Gnetopsida) 1 1,79 1 1,01 1 0,85
Tổng cộng 56 100,0 99 100,0 118 100,0

Phân tích mức độ tập trung của các họ thực vật làm thuốc cho thấy tính đa dạng phân bố không đồng đều:

Nhóm phân loại họ Số họ Tỷ lệ họ (%) Tên các họ tiêu biểu Số loài Tỷ lệ loài (%)
Họ có 7 loài 1 1,79 Asteraceae (Họ Cúc) 7 5,94
Họ có 6 loài 3 5,36 Rubiaceae, Moraceae, Euphorbiaceae 18 15,25
Họ có 4 loài 5 8,93 Araceae, Acanthaceae, Verbenaceae, Rutaceae, Araliaceae 20 16,95
Họ có 3 loài 6 10,71 Malvaceae, Apocynaceae, Lamiaceae, Myrsinaceae, Fabaceae, Icacinaceae 18 15,25
Họ có 2 loài 14 25,00 Phân bố ở cả 2 lớp của ngành Ngọc lan 28 23,73
Họ có 1 loài 27 48,21 Gnetaceae (Dây gắm) và 26 họ ngành Ngọc lan 27 22,88

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở các khía cạnh:

  • Cung cấp nguồn dẫn liệu sơ bộ và cập nhật về thành phần loài cây thuốc tại xã Thần Sa, trực tiếp bổ sung cơ sở dữ liệu thực vật cho Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng.
  • So sánh tỷ lệ số loài các họ chủ chốt tại khu vực nghiên cứu với tổng số loài của từng họ trong hệ thực vật Việt Nam (họ Cúc chiếm 1,84%; họ Cà phê chiếm 1,22%; họ Dâu tằm chiếm 3,35%; họ Thầu dầu chiếm 1,26%), cho thấy tiềm năng phát hiện thêm các loài cây thuốc mới tại vùng núi đá vôi Thần Sa là rất lớn.
  • Bước đầu ghi nhận kinh nghiệm trị bệnh gia truyền của đồng bào Tày và Dao, đặc biệt là các bài thuốc tắm phụ nữ sau sinh, thuốc xông cảm mạo và điều trị cơ xương khớp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận phản ánh một số giới hạn nghiên cứu được tác giả thừa nhận:

  • Giới hạn về thời gian và kinh nghiệm: Thời gian điều tra thực địa gói gọn trong 5 tháng (12/2019 - 05/2020), chưa thể bao quát hết các chu kỳ sinh trưởng, ra hoa và kết quả của toàn bộ hệ thực vật quanh năm tại địa bàn.
  • Quy mô đối tượng khảo sát: Đề tài mới chỉ tập trung điều tra kinh nghiệm sử dụng của 2 dân tộc (Tày và Dao) trên tổng số 6 dân tộc cùng sinh sống tại xã Thần Sa; số lượng thầy lang phỏng vấn còn ít (5 người).
  • Giới hạn chuyên sâu: Nghiên cứu mới dừng ở bước điều tra dân tộc học thực vật, phân loại hình thái và thống kê thành phần loài; chưa có điều kiện phân tích định tính, định lượng hoạt chất sinh học, chiết xuất dược lý hoặc thử nghiệm độc tính trên động vật.

Hướng nghiên cứu mở rộng:

  • Mở rộng phạm vi điều tra sang các dân tộc khác như Mông, Nùng, Sán Dìu tại xã Thần Sa và các xã lân cận trong khu bảo tồn (Thượng Nung, Sảng Mộc, Cúc Đường).
  • Nghiên cứu chi tiết trữ lượng tự nhiên và khả năng tái sinh của các loài cây thuốc quý hiếm.
  • Xây dựng mô hình trồng thử nghiệm và nhân giống bán tự nhiên (thuần hóa dưới tán rừng) các loài có giá trị thương mại và dược tính cao như Giảo cổ lam, Sa nhân, Ba kích.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh học thực vật và Dược liệu học trong việc tham khảo phương pháp điều tra dân tộc thực vật học (Ethnobotany) và phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA).
  • Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng và Hạt Kiểm lâm huyện Võ Nhai trong công tác xây dựng quy chế quản lý bảo vệ rừng đặc dụng, lập danh mục cây thuốc cần ưu tiên bảo tồn nguồn gen.
  • Chính quyền địa phương xã Thần Sa và các tổ chức phát triển nông thôn trong việc định hướng quy hoạch phát triển vùng trồng dược liệu bản địa, hỗ trợ sinh kế giảm nghèo cho cộng đồng dân tộc thiểu số sống gần rừng.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận đã ghi nhận được bao nhiêu loài cây thuốc tại xã Thần Sa và phân bố ở những ngành thực vật nào?
Nghiên cứu đã ghi nhận được tổng cộng 118 loài cây thuốc thuộc 99 chi và 56 họ. Các loài này phân bố ở 2 ngành thực vật có mạch: ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) với 117 loài (chiếm 99,15%) và ngành Dây gắm (Gnetophyta) với 1 loài duy nhất là Dây gắm (Gnetum montanum, chiếm 0,85%).

2. Họ và chi thực vật nào có số lượng loài làm thuốc nhiều nhất tại khu vực nghiên cứu?
Họ có nhiều loài làm thuốc nhất là họ Cúc (Asteraceae) với 7 loài (chiếm 5,94% tổng số loài). Về bậc chi, có 3 chi có số loài nhiều nhất (mỗi chi có 3 loài, tương đương 2,54%) gồm: chi Blumea (họ Cúc), chi Clerodendrum (họ Cỏ roi ngựa) và chi Ficus (họ Dâu tằm).

3. Mẫu điều tra xã hội học và phỏng vấn của đề tài được thực hiện trên bao nhiêu đối tượng?
Tổng số người được phỏng vấn là 50 người tại 9 xóm, bao gồm: 11 cán bộ (cán bộ xã, cán bộ xóm, kiểm lâm khu bảo tồn), 5 thầy lang và 34 người dân thường xuyên đi rừng có kinh nghiệm sử dụng cây thuốc.

4. Cây thuốc tại xã Thần Sa được thu thập chủ yếu từ tri thức của những dân tộc nào?
Đề tài tập trung điều tra và kế thừa vốn tri thức bản địa của 2 cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời tại địa bàn là dân tộc Tày và dân tộc Dao.

5. Khóa luận ghi nhận những công dụng điều trị cụ thể nào của các loài cây thuốc tiêu biểu?
Một số công dụng được ghi nhận trực tiếp từ các bài thuốc bản địa gồm: Ba chạc (Euodia lepta) dùng chữa bại liệt, di chứng tai biến, làm nước tắm phụ nữ sau sinh và xông cảm; Thầu dầu (Ricinus communis) chữa bệnh xương khớp; Hà thủ ô nam (Streptocaulon juventas) chữa hôi miệng; Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum) hạ mỡ máu và trợ tim; Sa nhân (Amomum villosum) làm thuốc bổ tỳ vị, kích thích tiêu hóa; Thủy xương bồ (Acorus calamus) làm nước tắm cho người ốm và phụ nữ sau sinh.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Miền đã phản ánh một cách có hệ thống tính đa dạng của 118 loài thực vật làm thuốc thuộc 99 chi, 56 họ tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Công trình đã kết hợp phương pháp điều tra thực địa theo tuyến với phương pháp phỏng vấn dân tộc học thực vật, ghi nhận nguồn tri thức bản địa giá trị của đồng bào Tày và Dao. Kết quả nghiên cứu là nguồn tư liệu khoa học cập nhật, đóng góp thiết thực cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học và định hướng sử dụng bền vững tài nguyên dược liệu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng.