CHƯƠNG 1 BLQSH được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là phù hợp với bản chất bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, đáp ứng nhu cầu mua bán hàng hoá theo phương thức trả chậm, trả dần hiện nay. BLQSH góp phần đảm bảo giao dịch mua bán trả chậm trả dần được diễn ra một cách thiện chí, bình đẳng, người tham gia vào các giao dịch dân sự có được thế chủ động trong việc thực hiện quyền dân sự, qua đó bảo đảm được tính bao quát, ổn định trong quy định của BLDS. Một trong những xu hướng của pháp luật dân sự của các nước hiện nay đều coi BLQSH như một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Do đó, việc BLQSH từ phần hợp đồng mua bán sang phần bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được xem là phù hợp với thông lệ quốc tế.
17 CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ BLQSH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 2. Các quy định pháp luật hiện hành về BLQSH 2. Căn cứ pháp lý của BLQSH BLQSH là một trong 9 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại Điều 292 Bộ luật Dân sự năm 2015 (sau đây viết tắt là BLDS 2015), 9 biện pháp này bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, BLQSH, bảo lãnh, tín chấp và cầm giữ tài sản. Biện pháp BLQSH được quy định tại tiểu mục 5, Mục 3 Chương XV, Phần thứ ba, bao gồm 04 điều (từ điều 331 đến điều 334).
Theo đó BLQSH được hiểu là trong hợp đồng mua bán thì bên bán có thể được giữ lại quyền sở hữu đối với đối tượng của hợp đồng cho đến khi bên mua thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán, mặc dù tài sản đã được chuyển giao cho bên mua. Trong biện pháp BLQSH, bên bán là bên nhận bảo đảm, thể hiện qua việc dù đã bán tài sản, người mua đã nắm giữ, sử dụng tài sản nhưng quyền sở hữu đối với tài sản đó vẫn thuộc về bên bán cho đến khi bên mua thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình. Việc quy định này giúp bên bán đảm bảo quyền lợi được thanh toán giá trị tài sản khi chuyển giao cho bên mua; còn bên mua thì cần phải hoàn thành trách nhiệm thanh toán trước khi được chuyển quyền sở hữu. BLQSH là nội dung đã sớm được quy định tại Điều 461 BLDS năm 2005 với tư cách là một thỏa thuận trong hợp đồng mua trả chậm, trả dần.
Đến BLDS năm 2015, BLQSH trong hợp đồng mua bán được quy định là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ5. Quyền và nghĩa vụ các bên trong BLQSH Ngoài quyền và nghĩa vụ chung của các bên trong việc giao kết và thực hiện 5Điều 461 BLDS 2005. Mua trả chậm, trả dần 1. Các bên có thể thoả thuận về việc bên mua trả chậm hoặc trả dần tiền mua trong một thời hạn sau khi nhận vật mua; bên bán được bảo lưu quyền sở hữu của mình đối với vật bán cho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
Hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần phải được lập thành văn bản. Bên mua có quyền sử dụng vật mua trả chậm, trả dần và phải chịu rủi ro trong thời gian sử dụng, trừ trường hợp có thoả thuận khác. 18 hợp đồng mua bán tài sản, thì các bên trong hợp đồng mua bán có áp dụng biện pháp BLQSH còn có quyền và nghĩa vụ cụ thể sau đây: 2. Quyền, nghĩa vụ của bên mua Một là, quyền sử dụng khai thác công dụng của tài sản: Khi nhận được tài sản mua bán, bên mua tài sản có quyền sử dụng tài sản và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản trong thời hạn BLQSH có hiệu lực mà không bị cản trở bởi bất cứ bên nào.
Khoản 2 Điều 109 BLDS 2015 quy định “Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại. Lợi tức là khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản”. Do đó, những hoa lợi phát sinh cũng như các khoản tiền thu được từ việc khai thác tài sản thì bên mua sẽ được hưởng. Ví dụ: anh A làm thủ tục mua đàn gia súc của chị B trị giá 500 triệu đồng.
Trong hợp đồng mua bán, A và B cùng thỏa thuận rằng anh A sẽ trả trước cho chị B 200 triệu đồng. Sau đó, mỗi tháng, anh A trả cho chị B 30 triệu đồng, sau 10 tháng, anh A sẽ thanh toán hết 300 triệu đồng còn lại. Như vậy, trong trường hợp này, đàn gia súc vẫn thuộc sở hữu của chị B cho đến khi anh A thanh toán hết 300 triệu đồng còn lại. Trong 10 tháng BLQSH, nếu anh A cho thuê gia súc thì tiền thuê sẽ thuộc về anh A; nếu gia súc đẻ con thì gia súc con cũng sẽ thuộc về anh A.
Hai là, nghĩa vụ thanh toán đúng theo thỏa thuận: Bên mua có trách nhiệm trả tiền đầy đủ và đúng hạn theo nội dung giao kết. Nếu vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì bên bán có quyền đòi lại tài sản đã bán. Ba là, chịu rủi ro về tài sản trong thời hạn BLQSH có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác: Bên mua tuy là bên bảo đảm nhưng lại nắm giữ tài sản, vì vậy trong thời hạn BLQSH bên mua phải có trách nhiệm gìn giữ, bảo quản tài sản, sử dụng hiệu quả tài sản, bởi nếu như có phát sinh rủi ro thì bên mua phải là bên chịu. Nếu việc khai thác, sử dụng tài sản mà bên mua làm hư hỏng, làm mất thì phải bồi thường các thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận là bên mua sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với những rủi ro về tài sản mua bán đó.
- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại: Trường hợp bên mua làm mất, hư hỏng tài sản thì bên bán có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Quy định này trên cơ sở bảo vệ quyền đối với tài sản của bên bán. Khi bên mua bằng hành vi của mình gây tổn hại tài 19 sản của bên bán thì phải gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho bên bán. Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với tài sản mua bán trong trường hợp này có bản chất tương tự như trách nhiệm dân sự thông thường, khi mà một người gây tổn hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra.
Quyền, nghĩa vụ của bên bán Một là, quyền đòi lại tài sản đã bán nếu bên mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán (như không trả tiền, trả tiền không đầy đủ, không còn khả năng thanh toán, trả tiền không đúng theo thỏa thuận. Điều 332 BLDS năm 2015 quy định '“Trường hợp bên mua không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cho bên bán theo thỏa thuận thì bên bán có quyền đòi lại tài sản. Bên bán hoàn trả cho bên mua số tiền bên mua đã thanh toán sau khi trừ giá trị hao mòn tài sản do sử dụng”. Như vậy, Trong trường hợp bên mua không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cho bên bán theo thỏa thuận thì bên bán có quyền đòi lại tài sản.
Khi đó, bên bán sẽ hoàn trả cho bên mua số tiền bên mua đã thanh toán sau khi trừ đi giá trị hao mòn tài sản do sử dụng. Quyền đòi lại tài sản của bên bán được thực hiện trên cơ sở có xảy ra tình trạng vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bên mua. Hai là, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại: Như đã phân tích ở trên, trường hợp bên mua làm mất, hư hỏng tài sản thì bên bán có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Như vậy, trong biện pháp BLQSH tồn tại một quan hệ đơn vụ, bởi lẽ không ràng buộc nghĩa vụ nào đối với bên bán, bên bán chỉ có quyền quyền yêu cầu thanh toán và quyền lấy lại tài sản, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, tương ứng với quyền của bên bán, nghĩa vụ tập trung về phía bên mua gồm nghĩa vụ phải thanh toán tiền mua tài sản, nghĩa vụ hoàn trả tài sản và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại.
Phạm vi xác lập BLQSH Xuất phát từ đặc trưng giữ lại quyền sở hữu để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán của BLQSH, có thể thấy BLQSH được áp dụng đối với các hợp đồng có thực hiện chuyển giao quyền sở hữu, và là hợp đồng có đền bù (các bên nhận lợi ích từ bên kia 20 và chuyển giao lại cho bên kia một lợi ích tương ứng). Như vậy, ngoài hợp đồng mua bán thì hợp đồng trao đổi tài sản theo quy định tại Điều 455 BLDS năm 2015 cũng thỏa mãn các tính chất (có đền bù, có chuyển giao quyền sở hữu) như trên. Nếu chỉ căn cứ quy định tại Điều 331 BLDS năm 2015 “Trong hợp đồng mua bán, quyền sở hữu tài sản có thể được bên bán bảo lưu cho đến khi nghĩa vụ thanh toán được thực hiện đầy đủ”, thì BLQSH chỉ được phép áp dụng đối với hợp đồng mua bán. Tuy nhiên, khoản 4 Điều 455 BLDS năm 2015 quy định: “Mỗi bên đều được coi là người bán đối với tài sản giao cho bên kia và là người mua đối với tài sản nhận về.
Các quy định về hợp đồng mua bán từ Điều 430 đến Điều 439, từ Điều 441 đến Điều 449 và Điều 454 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng trao đổi tài sản”. Như vậy, theo các quy định nêu trên, BLQSH tài sản được áp dụng đối với hợp đồng mua bán và hợp đồng trao đổi tài sản6. Tuy nhiên, với ý nghĩa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, thì BLQSH phù hợp hơn khi áp dụng đối với hợp đồng mua bán, khi đó việc trì hoãn chuyển giao quyền sở hữu giúp bên bán đảm bảo được quyền nhận thanh toán. Còn đối với hợp đồng trao đổi tài sản (với bản chất là hai hợp đồng mua bán, nhưng việc thanh toán không phải bằng giá trị tài sản mà bằng chính các tài sản thuộc quyền sở hữu của hai bên, hay nói khác hơn, có đến hai nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu trong hợp đồng trao đổi tài sản) thì thật không hợp lý nếu việc trì hoãn chuyển giao quyền sở hữu một bên chỉ để đảm bảo nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu của bên còn lại, BLQSH lúc này khiến cho hợp đồng trao đổi tài sản không còn phù hợp với mục đích của nó.
Các bên hoàn toàn có thể chuyển giao quyền sở hữu của mình để nhận chuyển giao quyền sở hữu của bên còn lại ngay mà không cần đến biện pháp BLQSH. Hình thức xác lập BLQSH Khoản 2 Điều 331 BLDS 2015 quy định: “BLQSH phải được lập thành văn bản riêng hoặc được ghi trong hợp đồng mua bán”.