CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP BẢO LÃNH TRONG BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ 1.1 Khái quát về nghĩa vụ 1.1 Khái niệm về nghĩa vụ Nghĩa vụ được định nghĩa như là một sự ràng buộc trách nhiệm được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động được pháp luật hoặc các quy định về đạo đức bắt buộc mỗi chủ thể trong các quan hệ dân sự phải tuân theo nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác. Nghĩa vụ một cách đơn giản được xem như là một trách nhiệm theo khuynh hướng bị động, tức là việc thực hiện các hành động mang tính chất bắt buộc, chủ thể sẽ không có sự lựa chọn và nếu không thực hiện sẽ gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định1. Nghĩa vụ là một thuật ngữ thường được áp dụng trong khoa học pháp lý nhằm để chỉ ra một hành vi mà một bên bắt buộc phải thực hiện theo các cam kết ban đầu, hoặc do có sự quy định của pháp luật.
Trong mối quan hệ nhà nước và pháp luật, nghĩa vụ là khái niệm được áp dụng trong nhiều các giao dịch dân sự, bao gồm hợp đồng, hành vi pháp lý đơn phương, chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ, bồi thường thiệt hại,. Nghĩa vụ có thể hiểu là một bộ phận không tách rời trong nội dung của một quan hệ pháp luật dân sự. Được thực hiện bởi hành động chuyển giao tài sản, thực hiện một công việc xác định nhằm đảm bảo quyền lợi của chủ thể khác2. Theo quy định của Bộ dân luật Bắc kì quy định về nghĩa vụ như sau3: 1 Lê Vũ Nam (chủ biên), Đoàn Thị Phương Diệp, Vũ Thị Hồng Yến, Trịnh Thục Hiền, Lưu Minh Sang, Liên Đăng Phước Hải, Huỳnh Nữ Khuê Các (2020), Giáo trình Pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP.
Hồ Chí Minh, trang 1 2 Đinh Văn Thanh, Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên), Trần Thị Huệ, Lê Đình Nghị, Phạm Công Lạc, Phùng Trung Tập, Nguyễn Minh Tuấn, Phạm Văn Tuyết, Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập II, Nhà xuất bản Công An Nhân dân, trang 5 3 Điều 644 Bộ dân luật Bắc kì 1931 10 “Nghĩa vụ là cái dây liên lạc về luật thực tại hay luật thiên nhiên bó buộc một hay nhiều người phải làm hay đừng làm sự gì đối với một hay nhiều người nào đó, người bị bó buộc là người mắc nợ hay trái hộ, người được hưởng là chủ nợ hay trái chủ”. Như vậy, Bộ dân luật Bắc kì cho rằng sự tồn tại nghĩa vụ dân sự là một ràng buộc về thực tại hoặc nghĩa vụ thiên nhiên (nghĩa vụ thuộc về tự nhiên, luân lý) đối với mỗi người buộc họ phải thực hiện các công việc hoặc không được làm đối với các chủ thể khác. Dựa trên cách tiếp cận đó, nghĩa vụ được định nghĩa trong Bộ luật Dân sự 2015 tại Điều 274 như sau: “Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”. Theo khái niệm trên có thể thấy pháp luật chỉ thực hiện việc định nghĩa chung về thuật ngữ “nghĩa vụ” thay vì “nghĩa vụ dân sự” xuất phát từ việc nhìn nhận nghĩa vụ dân sự được hình thành trên cơ sở nghĩa vụ pháp lý và đều được xem là nghĩa vụ nói chung4.
Nếu như nghĩa vụ dân sự được hình thành dựa trên việc giao tài sản hoặc thực hiện một công việc theo sự điều chỉnh của Luật Dân sự thì nghĩa vụ pháp lý theo nghĩa rộng được hình thành do quy định pháp luật. Tuy vậy, bản chất của nghĩa vụ vẫn là sự ràng buộc chủ thể phải thực hiện nếu không sẽ gánh chịu các chế tài của pháp luật. Tóm lại, nghĩa vụ được khoa học pháp lý Việt Nam được nhìn nhận như là một loại trách nhiệm được phát sinh dựa trên các hành động (giao vật, tiền, giấy tờ có giá,… hoặc thực hiện công việc) theo thoả thuận ban đầu (nghĩa vụ trong hợp đồng) và nghĩa vụ phát sinh dựa trên các hành động được pháp luật quy định (nghĩa vụ ngoài hợp đồng). 4 Lê Vũ Nam (chủ biên), Đoàn Thị Phương Diệp, Vũ Thị Hồng Yến, Trịnh Thục Hiền, Lưu Minh Sang, Liên Đăng Phước Hải, Huỳnh Nữ Khuê Các (2020), Giáo trình Pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP.
Hồ Chí Minh, trang 2 11 1.2 Đặc điểm nghĩa vụ Tương tự như đối với các quan hệ pháp luật dân sự khác, nghĩa vụ cũng có một số đặc điểm riêng của mình: Thứ nhất, nghĩa vụ là sự ràng buộc pháp lý về trách nhiệm giữa hai hoặc nhiều chủ thể với nhau5. Như đã nói, đặc điểm đầu tiên của nghĩa vụ chính là sự bắt buộc thực hiện hoặc không được thực hiện các công việc nhất định nhằm để đảm bảo quyền lợi của bên còn lại, tuỳ từng trường hợp bên còn lại có thể là một hoặc nhiều người. Việc bắt buộc thực hiện các trách nhiệm này được đảm bảo bởi sự chế tài của luật pháp, bên có nghĩa vụ nhưng không thực hiện sẽ gánh chịu các hậu quả bất lợi. Bên cạnh đó, quyền và lợi ích mà các bên hướng tới không được trái với lợi ích Nhà nước và xã hội.
Thứ hai, quan hệ nghĩa vụ là một quan hệ pháp luật tương đối, quyền và nghĩa vụ của hai bên đối lập nhau và có hiệu lực trong một phạm vi xác định6. Tính tương đối của nghĩa vụ được thể hiện trong mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ đối với quan hệ pháp luật dân sự cụ thể. Quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong mối quan hệ dân sự luôn song hành với nhau và mang tính chất đối lập, quyền của bên này sẽ là nghĩa vụ của bên còn lại và ngược lại. Cùng với đó, quyền và nghĩa vụ của các bên đều được xác định rõ ràng về mức độ và phạm vi, nói cách khác không có một chủ thể khác phát sinh nghĩa vụ ngoài sự thoả thuận, tính tương đối của nghĩa vụ hướng đến các đối tượng cụ thể.
Trong một số trường hợp, việc phát sinh nghĩa vụ có thể liên quan đến người thứ ba (bên bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ) tuy nhiên bên thứ ba này đều được phải xác định rõ ràng ngay từ ban đầu. 5 Đinh Văn Thanh, Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên), Trần Thị Huệ, Lê Đình Nghị, Phạm Công Lạc, Phùng Trung Tập, Nguyễn Minh Tuấn, Phạm Văn Tuyết, Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập II, Nhà xuất bản Công An Nhân dân, trang 7 6 Đỗ Văn Đại (Chủ biên), Chế Mỹ Phương Đài, Lê Minh Hùng, Lê Nết, Phạm Kim Anh, Phạm Xuân Quang, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2014), Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, trang 20. 12 Thứ ba, quan hệ nghĩa vụ được xem là quan hệ trái quyền 7. Khác với quan hệ vật quyền hoặc quan hệ sở hữu, quan hệ nghĩa vụ được thực hiện dựa trên các hành vi của chủ thể, quyền lợi của một bên chỉ được đáp ứng khi bên còn lại đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình.
Bên cạnh đó, họ không được bảo đảm thực hiện quyền của mình bằng cách trực tiếp tác động vào tài sản của bên có nghĩa vụ, thay vào đó, trong mối quan hệ nghĩa vụ, bên có quyền chỉ được phép yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng theo như các cam kết ban đầu hoặc bồi thường thiệt hại. Chính bởi vì pháp luật trao cho bên có quyền các quyền yêu cầu mà không tác động đến tài sản của bên có nghĩa vụ, ta xem đây là mối quan hệ trái quyền, người có quyền được xem là trái chủ. Một cách tổng quát, quyền của bên này được đảm bảo bằng nghĩa vụ của bên còn lại chứ không phải là tài sản của họ. Thứ tư, đối tượng nghĩa vụ hướng đến là lợi ích của chủ thể có quyền.
Theo như cách định nghĩa tại Điều 274 Bộ luật Dân sự 2015, ta thấy nghĩa vụ là sự dịch chuyển đối tượng là tài sản (vật, tiền, giấy tờ có giá) hoặc là việc thực hiện một hành động, công việc (ví dụ như bồi thường thiệt hại, uỷ quyền,.) và dù rằng việc thực hiện bằng bất kì hành động nào thì mục tiêu cuối cùng của việc thực hiện nghĩa vụ hướng đến là sự thỏa mãn lợi ích nhất định (vật chất hoặc tinh thần) đối với bên có quyền.3 Phân loại nghĩa vụ Như đã trình bày, mối quan hệ nghĩa vụ phát sinh trong một mối quan hệ dân sự giữa những người có quyền và người có nghĩa vụ, một bên chỉ có thể đáp ứng được đầy đủ quyền khi và chỉ khi bên còn lại thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ đối ứng. Các loại nghĩa vụ có thể bao gồm nghĩa vụ với một người hoặc với nhiều người, hoặc nhiều người cùng có nghĩa vụ đối với một người, nghĩa vụ liên quan đến người thứ ba,. Dựa trên các tiêu chí về nguồn gốc hình thành, chủ thể thực hiện, mục đích, đối tượng và phương thức thực hiện nghĩa vụ, ta có thể phân loại nghĩa vụ theo các nhóm sau: 7 Nguyễn Ngọc Điện (2010), “Sự cần thiết của việc xây dựng các chế định vật quyền và trái quyền trong Luật Dân sự”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 23(184), tháng 12/2010 13 Thứ nhất, căn cứ vào nguồn gốc phát sinh nghĩa vụ: có thể chia thành hai loại, bao gồm: nghĩa vụ phát sinh theo hợp đồng và nghĩa vụ ngoài hợp đồng8. Trong đó: - Nghĩa vụ phát sinh theo hợp đồng: là loại nghĩa vụ được phát sinh dựa trên thoả thuận của các bên, bên có quyền sẽ được phép yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện theo đúng như các cam kết ban đầu, bên có quyền chỉ có thể thoả mãn mục đích khi bên có nghĩa vụ thực hiện đúng và đầy đủ theo như thoả thuận.
Nghĩa vụ này phát sinh dựa trên sự thể hiện ý chí ban đầu của các bên khi giao kết hợp đồng, do đó các bên hoàn toàn có thể lựa chọn phạm vi và mức độ nghĩa vụ phải thực hiện để tham gia giao kết hợp đồng.