CHƯƠNG I: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 1. Khái niệm, đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng 1.1 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng Ngày nay, bảo lãnh là một lĩnh vực đầy tiềm năng, là một phương thức tài trợ đặc biệt dựa trên khả năng tài chính và uy tín của NHTM. Sự ra đời và phát triển của hoạt động bảo lãnh là một tất yếu khách quan gắn liền với nhu cầu ngày càng phức tạp và đa dạng của các quan hệ kinh tế.
Bảo lãnh ngân hàng đã góp phần đa dạng hóa các nghiệp vụ ngân hàng, giảm thiểu rủi ro hoạt động của NHTM và tài trợ (đặc biệt là vốn) cho các doanh nghiệp một cách có hiệu quả. Để tạo điều kiện cho các bên có thể giao kết hợp đồng mà vẫn bảo đảm được quyền lợi của người có quyền ngay cả trong trường hợp người có nghĩa vụ không có tài sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ. Pháp luật cho phép người thứ ba đứng ra cam kết trước người có quyền về việc thực hiện thay nghĩa vụ cho người có nghĩa vụ. Căn cứ Điều 361 Bộ luật dân sự 2005: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.” Xét về mặt bản chất ta có thể hiểu bảo lãnh là một hợp đồng hình thành dựa trên sự thỏa thuận về ý chí giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh chứ không phải là hành vi cam kết đơn phương của bên bảo lãnh. Về nguyên tắc, trong quan hệ bảo lãnh luôn có sự tham gia của ba loại chủ thể là bên được bảo lãnh, bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh nhưng việc tham gia ký kết của bên được bảo lãnh không phải là điều kiện bắt buộc để thiết lập quan hệ hợp đồng bảo lãnh, mặc dù cam kết của bên được bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ với bên bảo lãnh sau khi họ thực hiện nghĩa vụ thay cho mình là cơ sở để người bảo lãnh đưa ra cam kết bảo lãnh. Theo đó đối tượng của hợp đồng bảo lãnh chính là nghĩa vụ của bên thứ ba - đây là nghĩa vụ phụ Sinh viªn: NguyÔn TiÕn Cêng 3 Líp: LuËt Kinh doanh K48 Trêng §HKTQD Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp được thiết lập trên cơ sở nghĩa vụ chính đã tồn tại giữa người được bảo lãnh và người nhận bảo lãnh phát sinh trong quan hệ hợp đồng trước đó. Tính chất là nghĩa vụ phụ thể hiện qua một số khía cạnh: áp dụng biện pháp bảo đảm cho nghĩa vụ chính khi chưa có vi phạm nghĩa vụ xảy do đó bảo lãnh chỉ thể hiện chức năng tác động, chức năng dự phòng.
Điều này khẳng định tính độc lập của hợp đồng bảo lãnh, việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh không phụ thuộc vào các giao dịch gốc hay bất kì yếu tố nào khác ngoài bản thân giao dịch bảo lãnh. Thực tế, Bảo lãnh ngân hàng có thể hiểu theo nhiều góc độ khác nhau, sau đây là một số định nghĩa thường được sử dụng: Về góc độ học thuật, bảo lãnh ngân hàng là một hình thức “tín dụng chữ ký – Signature credit”, là hoạt động sinh lời mà không phải bỏ vốn của ngân hàng. Trong thương mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng được xem như một loại hình tài trợ ngoại thương, nhằm phòng ngừa những tổn thất cho người thụ hưởng bảo lãnh khi đối tác vi phạm các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng. Căn cứ Khoản 1 Điều 2 Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 của Thống đốc ngân hàng nhà nước, bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay. Nghiệp vụ bảo lãnh là một nghiệp vụ tín dụng của NHTM, tuy nhiên nó có những đặc điểm và tính chất riêng, khác với các hình thức cấp tín dụng khác.2 Đặc điểm của hoạt động bảo lãnh ngân hàng Từ định nghĩa trên ta có thể rút ra các đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng như sau: - Trong nghiệp vụ bảo lãnh tồn tại mối quan hệ đa phương gồm có: ngân hàng bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh là mối quan hệ gốc, là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh. Quan hệ này được thể hiện thông qua hợp đồng hợp đồng giữa hai bên.
Trong đó quy định người được bảo lãnh bắt buộc phải thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh. Quan hệ giữa bên nhận bảo lãnh và ngân hàng bảo lãnh: là mối quan hệ giữa khách hàng nhận tín dụng và ngân hàng cấp tín dụng. Trong quan hệ này, ngân hàng có nghĩa vụ thực hiện thay nghĩa vụ cho khách hàng với bên nhận bảo lãnh trong Sinh viªn: NguyÔn TiÕn Cêng 4 Líp: LuËt Kinh doanh K48 Trêng §HKTQD Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp trường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng có nghĩa vụ thanh toán phí bảo lãnh cho ngân hàng.
Trường hợp nghĩa vụ bảo lãnh phát sinh thì khách hàng phải nhận nợ và thanh toán nợ cho ngân hàng. Quan hệ này thể hiện thông qua hợp đồng bảo lãnh. Quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh và bên được bảo lãnh là mối quan hệ bảo đảm bằng uy tín và khả năng tài chính. Ngân hàng đảm bảo thực hiện nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh.
Tùy thỏa thuận giữa các bên mà bên nhận bảo lãnh phải chứng minh về việc bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ để ngân hàng thực hiện cam kết hoặc ngân hàng sẽ phải thanh toán vô điều kiện khi có yêu cầu của bên nhận bảo lãnh.Quan hệ này thể hiện thông qua thư bảo lãnh. - Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập Trong một nghiệp vụ bảo lãnh thường có 3 hợp đồng độc lập: + Hợp đồng giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng (underlying contract) gọi là hợp đồng cơ sở. Đây là nguồn gốc để hình thành nên 2 hợp đồng còn lại. + Hợp đồng giữa người yêu cầu bảo lãnh (người được bảo lãnh – Account party) và ngân hàng phát hành, cụ thể là đơn xin bảo lãnh đã được duyệt.
+ Thư bảo lãnh (letter of guarantee) là hợp đồng giữa ngân hàng bảo lãnh và người thụ hưởng. Các bên trong mỗi hợp đồng có quyền và nghĩa vụ riêng, mặc dù các hợp đồng đó vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của nhau: Nội dung thư bảo lãnh được xây dựng trên nền tảng những điều khoản trong hợp đồng cơ sở. Nhưng về mặt pháp lý, thư bảo lãnh có giá trị riêng tách rời khỏi cơ sở hình thành ra nó. Tính độc lập của bảo lãnh ngân hàng thể hiện rõ nhất ở trách nhiệm thanh toán của ngân hàng phát hành bảo lãnh.
Trách nhiệm này hoàn toàn không phụ thuộc vào mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người được bảo lãnh. Ngân hàng bảo lãnh phải thực hiện cam kết của mình chỉ căn cứ vào việc người thụ hưởng thỏa mãn đầy đủ những điều kiện theo thư bảo lãnh. Khi người thụ hưởng xuất trình đầy đủ các bằng chứng hợp pháp chứng minh sự vi phạm của người được bảo lãnh thì người thụ hưởng có quyền yêu cầu ngân hàng phát hành thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh mà không bị ngăn cản bởi nguyên nhân nào khác. Ngân hàng không thể dùng bất cứ lý do gì thuộc về quan hệ giữa họ và người được bảo lãnh để trì hoãn thanh toán.
Tuy nhiên những vấn đề mà người được bảo lãnh gặp phải là những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng cơ sở không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của ngân Sinh viªn: NguyÔn TiÕn Cêng 5 Líp: LuËt Kinh doanh K48 Trêng §HKTQD Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp hàng bảo lãnh. Ngân hàng bảo lãnh phải chuyển tiền từ tài khoản của người được bảo lãnh trên cơ sở đòi tiền hợp lệ của người thụ hưởng hoặc quyền được đòi hoàn trả từ người được bảo lãnh nếu ngân hàng trả tiền từ tài khoản của ngân hàng. Nghĩa vụ của người được bảo lãnh cũng được xác định rõ: ủy quyền đầy đủ cho ngân hàng bảo lãnh trích tài khoản của mình thanh toán cho người thụ hưởng, hoặc hoàn trả cho ngân hàng số tiền ngân hàng đã thanh toán theo bảo lãnh. Cho dù người được bảo lãnh bị phá sản hoặc mất khả năng chi trả thì ngân hàng vẫn phải thanh toán cho người thụ hưởng theo đúng điều khoản của bảo lãnh.
Ngay cả khi có tranh chấp của hai bên thì ngân hàng cũng không có quyền ngừng thanh toán. Người được bảo lãnh sẽ hoàn tiền theo nguyên tắc: “thanh toán trước, khiếu kiện sau” (pay first, argue latter). Người được bảo lãnh có quyền khiếu nại nếu thấy không công bằng. Tòa sẽ xem xét và quyết định.
Lúc này, người được bảo lãnh mới có cơ hội được bù đắp tổn thất do sự lạm dụng của bên thụ hưởng. Nghĩa vụ của ngân hàng là phải thanh toán cho bên thụ hưởng khi nhận được yêu cầu đòi tiền kèm theo các chứng từ hợp pháp đúng với các yêu cầu của bảo lãnh. Tính độc lập đem lại nhiều thuận lợi cho người nhận bảo lãnh nên nó được ưa chuộng và sử dụng nhiều trong thực tế. - Bảo lãnh là hoạt động tín dụng ngoại bảng Bảo lãnh là một hình thức tài trợ của ngân hàng cho khách hàng.
Qua đó, khách hàng có thể tìm nguồn tài trợ mới, mua được hàng hóa hoặc thực hiện được các hợp đồng sản xuất kinh doanh nhằm mục đích thu lợi. Về bản chất thì bảo lãnh ngân hàng là một hình thức tài trợ thông qua uy tín.