Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO LÃNH THANH TOÁN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO LÃNH THANH TOÁN NGÂN HÀNG 1. Lý luận cơ bản về hoạt động bảo lãnh thanh toán của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm, đặc điểm bảo lãnh thanh toán ngân hàng Bảo lãnh thanh toán ngân hàng trong phạm vi luận văn này nghiên cứu được hiểu là bảo lãnh thanh toán ngân hàng theo nghĩa rộng, không phải bảo lãnh thanh toán theo nghĩa hẹp là một loại hình bảo lãnh nhất định theo Thông tư 28/2012/TT-NHNN về bảo lãnh ngân hàng. Bảo lãnh thanh toán ngân hàng theo nghĩa rộng có thể được hiểu như là một trong số các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nhưng với đặc thù đòi hỏi phải có một tổ chức có uy tín và khả năng tài chính là tổ chức tín dụng đóng vai trò bên bảo lãnh.
Đây là đặc điểm cho phép phân biệt bảo lãnh thanh toán ngân hàng với các loại bảo lãnh dân sự khác. Căn cứ theo Bộ Luật Dân sự của Đức (German Civil Code) đoạn 648a có quy định: The security may also be provided by means of a guarantee or other promise of payment by a banking institution or credit insurer authorised to conduct business operations within the area of application of this Code. The banking institution or credit insurer may only make payments to the contractor to the extent that the customer recognises the claim of the contractor to remuneration or has been ordered by a provisionally enforceable judgment to pay the remuneration and the requirements are met under which execution of judgment may be commenced [30. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Có thể tạm dịch và hiểu rằng “Biện pháp bảo đảm cũng có thể được cung cấp bằng một bảo lãnh hoặc cam kết thanh toán của ngân hàng hoặc công ty bảo hiểm được phép hoạt động kinh doanh trong phạm vi áp dụng của Bộ luật này (Bộ luật này là Bộ luật Dân sự Đức).
Các ngân hàng hoặc công ty bảo hiểm chỉ có thể thực hiện thanh toán cho nhà thầu trong phạm vi mà khách hàng nhận yêu cầu bồi thường của nhà thầu được hưởng thù lao hoặc đã được một phê duyệt tạm thời được thi hành để trả thù lao và các yêu cầu được đáp ứng theo đó thi hành án có thể được bắt đầu”. Qua đây có thể thấy bảo lãnh ngân hàng cũng như một cam kết thanh toán và bảo lãnh cũng có thể hiểu là một phương thức thực hiện thanh toán và có thể được gọi là bảo lãnh thanh toán ngân hàng. Bảo lãnh ngân hàng mang bản chất đặc trưng thanh toán cho dù nó tồn tại dưới các dạng khác nhau. Một số bộ luật dân sự ở Châu Âu cũng có cách hiểu như vậy.
Ví dụ như bài viết Guarantees under the New Civil Code (Bộ Luật Dân sự của Romania) của tác giả Monia Dobrescu thì: The bank letter of guarantee is defined as an irrevocable and unconditional commitment of the issuer (usually, a banking institution) to pay an amount of money to a third party (the beneficiary) upon the request of an authorizing officer, in consideration of an already existing legal relationship between the authorizing officer and the beneficiary, upon the occurrence of certain events stipulated in such letter [36]. Theo đó có thể hiểu rằng “Thư bảo lãnh ngân hàng được xác định như là một cam kết không hủy ngang và vô điều kiện của tổ chức phát hành (thông thường là một ngân hàng) phải thanh toán một khoản tiền cho bên thứ ba (bên thụ hưởng) theo yêu cầu của một người đại diện có thẩm quyền, trong việc xem xét có quan hệ pháp lý giữa người được ủy quyền và bên thụ hưởng, khi xảy ra sự kiện nhất định được quy định trong Thư bảo lãnh”. Ngoài ra, theo một trang website về các thuật ngữ ngân hàng cũng như 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com luật học thì: “A payment guarantee is a type of financial commitment that requires the debtor to repay the debt in accordance with the terms and conditions that apply to the original debt agreement” [40]. Có thể tạm dịch và hiểu rằng “Một bảo lãnh thanh toán là một loại cam kết tài chính mà yêu cầu con nợ trả nợ phù hợp với các điều khoản và điều kiện áp dụng cho các hợp đồng nợ gốc”.
Qua đây có thể thấy bảo lãnh thanh toán theo cách hiểu thông thường thì cũng giống như bảo lãnh nói chung. Qua các phân tích trên có thể thấy khái niệm bảo lãnh thanh toán ngân hàng cũng như khái niệm bảo lãnh ngân hàng đang được hiểu song song với nhau, nếu với khái niệm bảo lãnh ngân hàng thường được xác định như một biện pháp bảo đảm thì khái niệm bảo lãnh thanh toán ngân hàng có thể thấy bản chất phương thức thanh toán của bảo lãnh khi bên bảo lãnh buộc phải thực hiện thanh toán cho bên nhận bảo lãnh khi có sự kiện vi phạm của bên được bảo lãnh. Hiện nay cả pháp luật Việt Nam và pháp luật các quốc gia tác giả tìm hiểu thì chưa có quy định cụ thể khái niệm thế nào là bảo lãnh thanh toán ngân hàng mà dường như chỉ tồn tại khái niệm bảo lãnh (Guarantee). Dưới góc độ pháp lý, căn cứ theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì bảo lãnh thanh toán ngân hàng được hiểu là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận [20, Điều 4, khoản 18].
Có thể dễ dàng nhận thấy hoạt động bảo lãnh thanh toán đã có từ thời Hy lạp cổ đại trong những giao dịch nhỏ lẻ, dù rất sơ khai. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, bảo lãnh thanh toán bắt đầu được sử dụng tại các nước Tây Âu và Hoa Kỳ. Đến những năm 70, thương mại mậu dịch quốc tế ngày càng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát triển đã làm gia tăng nhu cầu đa dạng hóa và hợp pháp hóa công cụ tài trợ và bảo đảm quốc tế có tính linh hoạt, độ tin cậy cao, phù hợp với tập quán quốc tế và không trái với luật pháp quốc gia, ngoài phương thức tín dụng chứng từ truyền thống, bảo lãnh thanh toán ngân hàng đáp ứng được các yêu cầu này và được sử dụng ngày càng phổ biến. Ngày nay, bảo lãnh thanh toán ngân hàng được sử dụng rất rộng rãi và đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế tại các quốc gia, các khu vực và trên toàn thế giới.
Doanh số bảo lãnh thanh toán tại các ngân hàng gia tăng nhanh chóng. Không chỉ được sử dụng trong mọi lĩnh vực các nước phát triển, bảo lãnh thanh toán ngân hàng còn là phương tiện bảo đảm khá phổ biến trong giao dịch kinh tế và dân sự ở các quốc gia đang phát triển. Ngoài ra, hầu hết các giao dịch quốc tế lớn đều có sự hỗ trợ của các phương thức bảo lãnh thanh toán của các ngân hàng. Tại Việt Nam, trước năm 1975, một số ngân hàng thuộc chế độ cũ ở Sài Gòn đã cung cấp dịch vụ bảo lãnh thanh toán như một phương thực bảo đảm trong quan hệ dân sự.
Sau khi đất nước thống nhất, hoạt động này được thực hiện từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, trong giai đoạn chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường. Đến những năm 90, khi nền kinh tế bắt đầu mở cửa để hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, hoạt động ngân hàng trở nên đa dạng và bảo lãnh thanh toán tại các ngân hàng được phát triển như một tất yếu khách quan. Nhưng do thiếu sự chỉ đạo thống nhất bằng các văn bản pháp luật nên hoạt động bảo lãnh thanh toán tại các ngân hàng thời kỳ này còn thiếu hiệu quả. Từ những năm 1994 – 1995, hoạt động bảo lãnh thanh toán dần được hoàn thiện nhờ việc ban hành một số quy định thống nhất.
Những năm sau đó, cùng với xu hướng mở rộng quan hệ kinh tế trong và ngoài nước, bảo lãnh thanh toán tại các ngân hàng đã nhanh chóng phát triển. Tỷ lệ tăng trưởng hàng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năm về doanh số và dư nợ bảo lãnh thanh toán của các ngân hàng thương mại ngày càng tăng. Các hình thức bảo lãnh được áp dụng ngày càng đa dạng, với doanh số ngày càng cao cho thấy tiềm năng phát triển của dịch vụ này trong nền kinh tế nước ta là rất lớn. Từ khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới, cơ hội hợp tác và mở rộng thương mại quốc tế ngày càng nhiều; cùng với đó, nhu cầu sử dụng các dịch vụ tài chính – ngân hàng ngày càng gia tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng nói chung và bảo lãnh thanh toán tại các ngân hàng nói riêng phát triển.
Việc tìm hiểu đặc điểm đặc trưng cơ bản của bảo lãnh thanh toán - một biện pháp bảo đảm là hết sức quan trọng, một quan hệ vừa mang tính đối nhân - có sự tham gia của người thứ ba, vừa có thể mang tính đối vật - nếu quan hệ bảo lãnh có sự thế chấp, cầm cố tài sản của người bảo lãnh với người nhận bảo lãnh. Đặc biệt hơn trong quan hệ bảo lãnh thanh toán ngân hàng thì về cơ bản mang tính đối nhân đây là điểm khác biệt so với bảo lãnh dân sự thông thường, lý do bên bảo lãnh thanh toán ngân hàng chỉ có thể là các tổ chức tín dụng/ngân hàng thương mại không dùng tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh mà dùng chính uy tín và khả năng tài chính của mình để bảo lãnh. Qua tìm hiểu, tác giả luận văn nhận thấy một số đặc điểm đặc trưng của bảo lãnh thanh toán ngân hàng, cụ thể: - Thứ nhất, bảo lãnh thanh toán ngân hàng cũng là một dạng của bảo lãnh dân sự thông thường nên vẫn mang đặc điểm là mối quan hệ giữa ba bên, bao gồm bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Song đặc điểm đặc trưng của bảo lãnh thanh toán ngân hàng là bên bảo lãnh buộc phải là tổ chức tín dụng được phép được thành lập và hoạt động theo quy định và được thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh đối với khách hàng.
- Hình thức của bảo lãnh thanh toán ngân hàng bắt buộc phải bằng văn bản, có thể tồn tại dưới dạng hợp đồng bảo lãnh hoặc thư bảo lãnh. Trong hợp 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.