Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong môi trường giáo dục đại học, hoạt động nghiên cứu khoa học đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển tư duy sáng tạo của người học. Các sản phẩm học thuật của sinh viên như bài nghiên cứu khoa học, khóa luận tốt nghiệp, báo cáo thực tập hay bài báo khoa học là những tài sản trí tuệ vô hình chứa đựng công sức và tri thức độc lập. Tuy nhiên, trước sự phát triển của công nghệ thông tin, xu hướng truy cập mở đối với các nguồn tư liệu và tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nguy cơ xâm phạm quyền tác giả đối với các tác phẩm khoa học ngày càng gia tăng. Thực tiễn tại các cơ sở đào tạo, trong đó có Học viện Hành chính Quốc gia, cho thấy việc quản lý, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với tác phẩm của sinh viên còn bộc lộ nhiều khoảng trống và bất cập. Tình trạng sao chép, trích dẫn không đúng quy định, vi phạm bản quyền vẫn diễn biến phức tạp trong khi nhận thức pháp lý của sinh viên còn nhiều hạn chế.

Xuất phát từ bối cảnh đó, tác giả Dương Thị Phương Anh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Luật với đề tài: "Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với tác phẩm khoa học của sinh viên tại Học viện Hành chính Quốc gia".

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả và quyền liên quan đối với tác phẩm khoa học; khảo sát, đánh giá thực trạng bảo hộ tại Học viện Hành chính Quốc gia; từ đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ trên thực tế.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:

  1. Xác định các vấn đề lý luận cơ bản về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả và quyền liên quan đối với tác phẩm khoa học của sinh viên.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng, nhận thức, nội dung bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả và quyền liên quan đối với các tác phẩm khoa học của sinh viên tại Học viện Hành chính Quốc gia; chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân.
  3. Đề xuất kiến nghị và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đối với các tác phẩm khoa học của sinh viên tại Học viện Hành chính Quốc gia.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề lý luận, quy định của pháp luật và thực trạng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, trọng tâm là quyền tác giả và quyền liên quan đối với tác phẩm khoa học của sinh viên tại Học viện Hành chính Quốc gia. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian được thực hiện tại Học viện Hành chính Quốc gia; phạm vi thời gian tập trung khảo sát dữ liệu trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2023; phạm vi nội dung giới hạn ở việc bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan đối với tác phẩm khoa học của sinh viên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống khái niệm chuẩn mực của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, bao gồm: khái niệm quyền sở hữu trí tuệ (khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ), quyền tác giả (khoản 2 Điều 4), quyền liên quan (khoản 3 Điều 4) và tác phẩm khoa học (khoản 7 Điều 4). Về mặt lý luận, tác phẩm khoa học của sinh viên được phân định thành các hình thức cơ bản gồm: khóa luận tốt nghiệp, công trình nghiên cứu khoa học, bài báo khoa học, sách khoa học và báo cáo khoa học.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và văn bản điều hành được tác giả sử dụng làm căn cứ phân tích gồm:

  • Các đạo luật chung: Bộ luật Dân sự (các thời kỳ 1995, 2005 và hiện hành); Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019 và 2022).
  • Các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành: Nghị định số 142/HĐBT ngày 14/12/1986; Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả ngày 10/12/1994; Nghị định số 76/CP ngày 29/11/1996; Nghị định số 22/2018/NĐ-CP ngày 23/02/2018; Nghị định số 17/2023/NĐ-CP ngày 26/04/2023.
  • Văn bản chuyên ngành giáo dục đại học: Quyết định số 78/2008/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định quản lý hoạt động sở hữu trí tuệ trong cơ sở giáo dục đại học.
  • Văn bản quản lý nội bộ của Học viện Hành chính Quốc gia: Quy chế Quản lý hoạt động khoa học và công nghệ (ngày 11/04/2023); Quy chế Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Học viện Hành chính Quốc gia (ban hành kèm theo Quyết định số 1089/QĐ-HCQG ngày 24/04/2023).

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học và khoa học xã hội:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn giải quy phạm pháp luật để làm sáng tỏ các quyền nhân thân (Điều 19), quyền tài sản (Điều 20), các hành vi xâm phạm (Điều 28, Điều 35) và biện pháp bảo vệ quyền (Điều 198, Điều 199 Luật Sở hữu trí tuệ).
  • Phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu thứ cấp từ Trung tâm Thông tin - Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia để phân tích quy mô các tác phẩm khoa học giai đoạn 2020 - 2023.
  • Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi khảo sát với kích thước mẫu $n = 100$ sinh viên đang học tập tại Học viện Hành chính Quốc gia nhằm đo lường mức độ nhận thức, mức độ hiểu biết pháp luật và tính chủ động tự bảo vệ quyền tác giả của người học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản và quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với tác phẩm khoa học của sinh viên

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với tác phẩm khoa học của sinh viên, làm rõ 6 đặc điểm pháp lý cơ bản:

  • Các tác phẩm khoa học của sinh viên chủ yếu là bài nghiên cứu và khóa luận, được tiếp cận rộng rãi nên dễ trở thành đối tượng bị xâm phạm bản quyền.
  • Quyền tác giả đối với tác phẩm khoa học mang tính độc quyền về hình thức thể hiện của ý tưởng sáng tạo chứ không bảo hộ bản thân ý tưởng hay nội dung khoa học.
  • Quyền tác giả được bảo hộ bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cơ sở giáo dục đại học thông qua các công cụ pháp lý và thiết chế quản trị.
  • Cơ chế bảo hộ quyền tác giả phát sinh tự động ngay khi tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký hay chất lượng nội dung.
  • Quyền tác giả không mang tính bảo hộ tuyệt đối, chịu sự giới hạn bởi các trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép và không phải trả tiền nhuận bút (các ngoại lệ phục vụ học tập, nghiên cứu cá nhân phi thương mại).
  • Chủ thể được bảo hộ xác định trực tiếp là sinh viên sáng tạo ra tác phẩm, đồng thời chịu sự điều chỉnh theo quy chế riêng của cơ sở giáo dục đại học.

Về tiến trình lập pháp, tác giả phân kỳ lịch sử bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam qua hai giai đoạn: giai đoạn 1945 - 1989 (bắt đầu ghi nhận từ Nghị định 142/HĐBT năm 1986 nhưng còn mang tính chất kiểm duyệt) và giai đoạn 1989 đến nay (hoàn thiện với Pháp lệnh năm 1994, Bộ luật Dân sự 1995, 2005 và Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi qua các năm 2009, 2019, 2022). Khóa luận cũng chỉ ra khoảng trống pháp luật hiện hành: Luật Sở hữu trí tuệ chưa có định nghĩa riêng biệt về "tác phẩm khoa học của sinh viên", trong khi Quyết định số 78/2008/QĐ-BGDĐT còn quy định chung chung, chưa phân định chi tiết các trường hợp sinh viên được hưởng toàn bộ hay phải chia sẻ quyền tài sản và quyền công bố với cơ sở đào tạo.

Chương 2: Thực trạng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với tác phẩm khoa học của sinh viên tại Học viện Hành chính Quốc gia

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng quản lý và tự bảo vệ quyền tác giả tại Học viện Hành chính Quốc gia – đơn vị có quy mô 8 khoa và 14 ngành đào tạo.

Về phía cơ sở đào tạo, Học viện đã ban hành Quy chế Quản lý hoạt động khoa học và công nghệ (2023) và Quy chế Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên (Quyết định số 1089/QĐ-HCQG năm 2023). Công tác quản trị bước đầu ghi nhận việc lưu trữ kết quả nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Khoa học hành chính và Trung tâm Thông tin - Thư viện; triển khai quét đạo văn bằng hệ thống của Học viện và thiết bị chuyên dụng của phòng Công nghệ thông tin; hỗ trợ sinh viên công bố kết quả nghiên cứu. Tuy nhiên, các chế tài xử lý vi phạm tại Học viện chủ yếu mang tính hành chính nội bộ như nhắc nhở, hòa giải, khiển trách, hạ điểm rèn luyện hoặc đình chỉ/đánh trượt học phần, chưa có quy trình xử lý chuyên biệt và tính linh hoạt chưa cao.

Về phía người học, thông qua kết quả điều tra xã hội học ($n = 100$), tác giả chỉ ra sự mâu thuẫn lớn giữa nhận thức về vai trò và hiểu biết thực tế:

  • Sinh viên đánh giá vai trò của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở mức rất cao (điểm trung bình chung đạt 3,45/4,0).
  • Hiểu biết cụ thể về pháp luật sở hữu trí tuệ ở mức trung bình (50% trả lời đúng, 50% trả lời sai). Dù 80% sinh viên nắm được quyền tác giả gồm quyền nhân thân và quyền tài sản, có tới 53% trả lời sai về đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ và 77% hiểu sai về quy định tự sao chép một bản phục vụ nghiên cứu khoa học cá nhân.
  • Về tính chủ động, có 56% sinh viên chưa từng chủ động tìm hiểu các quy định về quyền tác giả và quyền liên quan, chỉ có 44% đã chủ động tìm hiểu.

Nguyên nhân của thực trạng trên xuất phát từ việc thiếu vắng văn bản hướng dẫn chi tiết riêng về quyền tác giả của sinh viên, học phần Luật Sở hữu trí tuệ chưa được giảng dạy phổ biến trên toàn trường, chế tài xử lý vi phạm photocopy trái phép quanh khu vực trường chưa triệt để, và tính tự giác của sinh viên chưa cao.

Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền SHTT đối với TPKH của sinh viên Học viện Hành chính Quốc gia

Từ các bất cập được chỉ ra, tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp mang tính cấu trúc:

Nhóm giải pháp tại Học viện Hành chính Quốc gia:

  • Hoàn thiện hệ thống quy chế nội bộ liên quan đến việc xác lập, bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan đối với từng loại hình tác phẩm khoa học của sinh viên.
  • Xây dựng và triển khai các công cụ hỗ trợ người học tự bảo vệ quyền tác giả, thiết lập quy trình tiếp nhận và xử lý tranh chấp bản quyền minh bạch.
  • Đưa học phần Luật Sở hữu trí tuệ vào chương trình giảng dạy rộng rãi trên toàn trường thay vì chỉ áp dụng cho chuyên ngành Luật, nhằm nâng cao nhận thức pháp lý nền tảng.
  • Tăng cường công tác kiểm tra, rà soát, đầu tư các phần mềm chống đạo văn điện tử và số hóa toàn diện dữ liệu đề tài tại Trung tâm Thông tin - Thư viện.
  • Xử lý nghiêm minh các hành vi đạo văn, sao chép trái phép, đồng thời tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật sở hữu trí tuệ qua các hoạt động ngoại khóa, hội thảo.

Nhóm kiến nghị hoàn thiện pháp luật:

  • Bổ sung định nghĩa pháp lý rõ ràng về "tác phẩm khoa học của sinh viên" trong các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành giáo dục đại học.
  • Rà soát, sửa đổi Quyết định số 78/2008/QĐ-BGDĐT theo hướng phân định chi tiết cơ chế phân chia quyền tài sản và quyền nhân thân giữa sinh viên, giảng viên hướng dẫn và cơ sở đào tạo, đặc biệt trong các nghiên cứu có sử dụng kinh phí hoặc cơ sở vật chất của nhà trường.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa bức tranh thực tế về công tác nghiên cứu khoa học và bảo hộ quyền tác giả của sinh viên tại Học viện Hành chính Quốc gia thông qua các số liệu thống kê và khảo sát thực chứng.

Bảng 1: Thống kê số lượng bài nghiên cứu khoa học và khóa luận của sinh viên Học viện Hành chính Quốc gia (2020 - 2023)

Năm Số lượng bài nghiên cứu khoa học Số lượng bài khóa luận Tổng số tác phẩm
2020 32 92 124
2021 30 76 106
2022 39 100 139
2023 47 122 169
Tổng cộng 148 390 538

(Nguồn: Trung tâm Thông tin - Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia)

Số liệu cho thấy quy mô tác phẩm khoa học tăng đều qua các năm (tăng từ 124 bài năm 2020 lên 169 bài năm 2023, tương đương mức tăng 36,3%), trong đó khóa luận tốt nghiệp chiếm tỷ trọng chi phối (72,5% tổng số tác phẩm). Sự gia tăng này đặt ra áp lực lớn đối với công tác kiểm soát tính nguyên gốc và bảo hộ bản quyền.

Bảng 2: Tổng hợp kết quả khảo sát mức độ nhận thức và hiểu biết pháp luật của sinh viên ($n = 100$)

Tiêu chí khảo sát Chỉ số đo lường Tỷ lệ (%) / Điểm số Thứ hạng / Đánh giá
Đánh giá vai trò của bảo hộ SHTT Điểm trung bình chung 3,45 / 4,00 Mức rất quan trọng
- Tạo điều kiện phát triển NCKH & kinh tế tri thức Điểm trung bình 3,13 / 4,00 Xếp hạng 1
- Ngăn chặn, chấm dứt hành vi xâm phạm Điểm trung bình 3,13 / 4,00 Xếp hạng 1
- Tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thần Điểm trung bình 3,13 / 4,00 Xếp hạng 1
- Tạo động lực thúc đẩy nghiên cứu Điểm trung bình 3,10 / 4,00 Xếp hạng 2
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của sinh viên Điểm trung bình 2,55 / 4,00 Xếp hạng 3
Hiểu biết quy định pháp luật về QTG Điểm trung bình chung 50% đúng - 50% sai Mức trung bình
- Nhận thức về nội dung quyền tác giả Tỷ lệ trả lời 80% đúng - 20% sai Nắm tương đối tốt
- Đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ Tỷ lệ trả lời 47% đúng - 53% sai Còn nhầm lẫn
- Quy định nhân bản, tự sao chép 1 bản phục vụ NCKH Tỷ lệ trả lời 23% đúng - 77% sai Hiểu sai quy định
Tính chủ động tìm hiểu quy định - Chưa chủ động tìm hiểu
- Đã chủ động tìm hiểu
56%
44%
Ý thức tự giác chưa cao

(Nguồn: Khảo sát thực tế của tác giả khóa luận)

Đóng góp của nghiên cứu thể hiện ở việc:

  • Về mặt khoa học: Khóa luận bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận về quyền tác giả đối với tác phẩm khoa học của sinh viên – một nhóm đối tượng có tính chất đặc thù trong cơ sở đào tạo đại học.
  • Về mặt thực tiễn: Cung cấp nguồn cứ liệu khảo sát thực tế đầu tiên về thực trạng nhận thức pháp lý sở hữu trí tuệ của sinh viên tại Học viện Hành chính Quốc gia; đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp nội bộ và kiến nghị lập pháp có tính ứng dụng trực tiếp cho các nhà hoạch định chính sách giáo dục đại học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu:

  • Kích thước mẫu khảo sát xã hội học còn khiêm tốn ($n = 100$ sinh viên), giới hạn tại Học viện Hành chính Quốc gia, chưa mở rộng đối sánh với các trường đại học khác trên địa bàn Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian thống kê số liệu thứ cấp chỉ tập trung trong 4 năm (2020 - 2023), chưa phản ánh toàn diện tác động dài hạn của Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022 vừa có hiệu lực.
  • Khóa luận mới tập trung chủ yếu vào khía cạnh quyền tác giả và quyền liên quan, chưa đào sâu các đối tượng sở hữu công nghiệp (như giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp hay sáng chế) vốn có thể phát sinh từ các nghiên cứu kỹ thuật - ứng dụng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát trên quy mô liên trường, phân tích sâu cơ chế chia sẻ lợi nhuận thương mại hóa tài sản trí tuệ giữa nhà trường và người học, hoặc nghiên cứu tác động của trí tuệ nhân tạo (AI) đối với tính nguyên gốc của tác phẩm khoa học sinh viên.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Giảng viên và sinh viên ngành Luật học, đặc biệt là các chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ, khi nghiên cứu về cơ chế bảo hộ quyền tác giả trong môi trường học thuật.
  • Cán bộ quản lý nghiên cứu khoa học, cán bộ thư viện tại các trường đại học, học viện trong việc xây dựng quy chế nội bộ, quản trị cơ sở dữ liệu khóa luận và thiết lập quy trình kiểm soát đạo văn.
  • Các nhà nghiên cứu quan tâm đến đề tài thực thi pháp luật sở hữu trí tuệ trong các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam.

Phần nội dung đáng tham khảo nhất là Chương 2 với hệ thống số liệu thống kê chi tiết về sản lượng nghiên cứu và dữ liệu khảo sát thực chứng về nhận thức pháp luật của người học, cùng với các đề xuất sửa đổi Quyết định số 78/2008/QĐ-BGDĐT tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác phẩm khoa học của sinh viên bao gồm những loại hình nào và quyền tác giả phát sinh vào thời điểm nào?
Theo phân tích tại Chương 1 của khóa luận, tác phẩm khoa học của sinh viên bao gồm: khóa luận tốt nghiệp, bài nghiên cứu khoa học, bài báo khoa học trên tạp chí chuyên ngành, sách khoa học và báo cáo khoa học. Căn cứ khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả đối với các tác phẩm này được phát sinh tự động ngay từ thời điểm tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định (văn bản, ký tự, bản ghi điện tử...), không phụ thuộc vào việc đã công bố hay chưa, đã đăng ký xác lập quyền hay chưa.

2. Sản lượng nghiên cứu khoa học và khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Học viện Hành chính Quốc gia giai đoạn 2020 - 2023 biến động ra sao?
Dữ liệu lưu trữ tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Học viện cho thấy tổng số tác phẩm khoa học là 538 bài, có xu hướng tăng đều qua các năm: năm 2020 có 124 tác phẩm (32 bài NCKH, 92 khóa luận); năm 2021 giảm nhẹ xuống 106 tác phẩm (30 bài NCKH, 76 khóa luận); năm 2022 tăng lên 139 tác phẩm (39 bài NCKH, 100 khóa luận); và năm 2023 đạt 169 tác phẩm (47 bài NCKH, 122 khóa luận).

3. Khảo sát 100 sinh viên tại Học viện phản ánh những lỗ hổng nhận thức nào về các quy định sở hữu trí tuệ?
Kết quả khảo sát chỉ ra trung bình có 50% sinh viên trả lời sai các câu hỏi kiến thức pháp luật. Đáng chú ý, có 53% sinh viên không xác định đúng đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ (nhầm lẫn các văn bản hành chính, văn bản tư pháp hay tin tức thuần túy cũng được bảo hộ bản quyền). Đặc biệt, 77% sinh viên hiểu sai quy định pháp luật khi cho rằng hành vi "tự sao chép một bản tác phẩm nhằm mục đích nghiên cứu khoa học cá nhân" là vi phạm pháp luật sở hữu trí tuệ. Đồng thời, có tới 56% sinh viên thừa nhận chưa từng chủ động tìm hiểu các quy định về quyền tác giả.

4. Học viện Hành chính Quốc gia đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật và hình thức xử lý vi phạm bản quyền nào?
Học viện đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật gồm scan tài liệu số hóa, quét kiểm tra độ trùng lặp bằng hệ thống quét của Học viện và máy quét của phòng Công nghệ thông tin; công khai danh mục đề tài trên trang thông tin thư viện. Đối với các hành vi xâm phạm, Học viện áp dụng các biện pháp kỷ luật nội bộ theo mức độ: hòa giải giữa các bên, nhắc nhở, cảnh cáo, khiển trách, hạ điểm rèn luyện hoặc đánh trượt học phần.

5. Khóa luận chỉ ra bất cập pháp lý căn bản nào trong các văn bản điều chỉnh quyền sở hữu trí tuệ của sinh viên hiện nay?
Khóa luận chỉ ra rằng Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành chưa có điều khoản định nghĩa riêng về "tác phẩm khoa học của sinh viên". Bên cạnh đó, văn bản điều chỉnh chuyên ngành là Quyết định số 78/2008/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo mới chỉ quy định chung chung về quyền của người học, thiếu quy định chi tiết để phân định ranh giới sở hữu: trường hợp nào sinh viên được hưởng trọn vẹn quyền tài sản, trường hợp nào phải chia sẻ quyền tài sản và quyền công bố với cơ sở giáo dục khi sử dụng cơ sở vật chất hoặc kinh phí hỗ trợ của nhà trường.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Dương Thị Phương Anh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở pháp lý và lý luận về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm khoa học của sinh viên trong cơ sở giáo dục đại học. Dựa trên số liệu thống kê giai đoạn 2020 - 2023 và kết quả khảo sát 100 sinh viên, công trình đã phản ánh chân thực thực trạng quản trị tài sản trí tuệ và những hạn chế rõ nét trong nhận thức của người học tại Học viện Hành chính Quốc gia. Các giải pháp kiện toàn quy chế nội bộ và kiến nghị cụ thể hóa Quyết định số 78/2008/QĐ-BGDĐT do tác giả đề xuất mang giá trị thực tiễn cao, đóng góp thiết thực vào việc hoàn thiện hành lang pháp lý bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ học thuật.