CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Một số vấn đề lý luận về bảo hộ nhãn hiệu 1. Khái quát chung về nhãn hiệu Nhãn hiệu đầu tiên đã được ghi nhận sử dụng từ thời kỳ cổ đại để nhằm phân biệt sản phẩm trong giao thương hàng hóa được làm ra bởi các thợ thủ công. Ghi nhận sớm nhất về việc sử dụng các biểu tượng hay kí hiệu cho mục đích nêu trên là từ khoảng hơn 4000 năm về trước tại một số quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ và Ba Tư.1 Theo thời gian, hoạt động thương mại càng phát triển, việc gắn các nhãn hiệu lên hàng hóa càng trở nên phổ biến.
Tại La Mã vào khoảng 2000 trước đây, đã có thời điểm tồn tại đến khoảng 1000 nhãn hiệu khác nhau được gắn cho các sản phẩm đồ gốm.2 Sự phát triển của hành vi sử dụng nhãn hiệu tất yếu sẽ dẫn đến việc phải có pháp luật điều chỉnh đối với đối tượng này. Bởi vậy, việc sử dụng các nhãn hiệu có khả năng phân biệt đã dần dần được đưa vào các quy định của pháp luật, sớm nhất tại Vương Quốc Anh, năm 1266.3 Lịch sử phát triển của hành vi sử dụng các dấu hiệu có khả năng phân biệt làm nhãn hiệu cho thấy đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp này có vai trò rất lớn trong nền kinh tế trao đổi hàng hóa. Để hiểu rõ vai trò của nhãn hiệu, ta sẽ phân tích khái niệm, đặc điểm, chức năng cũng như ý nghĩa của đối tượng này. Khái niệm nhãn hiệu 1 Theo Kamil Idris (2005), SHTT - Một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế, Nxb.
Bản đồ, Hà Nội, tr. 149 2 Theo WIPO (2004), WIPO Intellectual Property Handbook, WIPO Publication, Geneva, tr. 67 3 Theo WIPO (2005), Trademarks Past and Present, WIPO Magazine, số 2/2025, https://www.int/wipo_magazine/en/2005/02/article_0003, truy cập ngày 30/12/2023 11 Theo WIPO, nhãn hiệu là “bất kỳ dấu hiệu nào để xác định hàng hóa của một doanh nghiệp và phân biệt chúng với hàng hóa của các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp đó.”4 Trong khái niệm đưa ra bởi WIPO, nhãn hiệu có hai chức năng chính là để (i) xác định một hàng hóa được tạo ra bởi chủ thể nào và (ii) phân biệt hàng hóa của chủ thể đấy với hàng hóa của các chủ thể khác trong thị trường. Trên thực tế, các chức năng này đi liền với nhau và không tách rời nhau.
Khái niệm nêu trên đưa ra được các yếu tố cơ bản về nhãn hiệu như hình thức của nhãn hiệu (là bất kỳ dấu hiệu nào) và chức năng của chúng. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa đầy đủ bởi thực tế, nhãn hiệu có thể được sử dụng bởi cả các cá nhân, và với sự phát triển của nền kinh tế thì nhãn hiệu có thể đi liền với dịch vụ chứ không chỉ với hàng hóa. Theo từ điển Black’s Law Dictionary, nhãn hiệu là “một thuật ngữ dành cho những tên, dấu hiệu hoặc một thuật ngữ mà một công ty có thể sử dụng theo quy định của pháp luật để gắn với chính họ hoặc các sản phẩm của họ.” 5 Khái niệm này phần nào khắc họa được bản chất của nhãn hiệu là các từ ngữ, tên hoặc bất kỳ dấu hiệu nào được sử dụng để các chủ thể gắn lên các sản phẩm của mình. Việc sử dụng nhãn hiệu này phù hợp với pháp luật, nghĩa là nó có thể là việc chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng chính nhãn hiệu của mình cho các hàng hóa/dịch vụ mà họ tạo ra, hoặc các chủ thể khác theo các quy định của pháp luật được sử dụng nhãn hiệu của người khác.
Tuy nhiên, khái niệm này chưa thực sự phù hợp với thực tiễn gắn liền với vấn đề nhãn hiệu, bởi các lí do như sau: 4 Theo WIPO (2004), WIPO Intellectual Property Handbook, WIPO Publication, Geneva tr. 67 5 Theo The Law Dictionary, featuring Black’s Law Dictionary, 2 nd Ed.org/trademark-2/, truy cập ngày 30/12/2023 12 Thứ nhất, khái niệm này chỉ gắn liền với chủ thể là doanh nghiệp. Trên thực tế, nhãn hiệu có thể được sử dụng và đăng ký bởi cả các cá nhân sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ. Thứ hai, khái niệm này chưa làm nổi bật được chức năng phân biệt các hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể khác nhau cung cấp và gây nhầm lẫn với khái niệm tên thương mại.
Chức năng gắn liền với chính các chủ thể sử dụng nhãn hiệu được đề cập trong khái niệm này có thể được hiểu là chức năng chỉ dẫn về nguồn gốc cho các sản phẩm là hàng hóa và dịch vụ mang nhãn hiệu, nhưng lại cũng có thể được hiểu là để phân biệt giữa các doanh nghiệp với nhau, tương tự như việc sử dụng tên thương mại. Khái niệm nêu trên cũng nhấn mạnh được rằng định nghĩa nhãn hiệu sẽ luôn gắn liền với quy định của pháp luật. Quyền SHTT là một loại tài sản, và mỗi quốc gia, mỗi nền tư pháp sẽ có những quy định khác nhau về tài sản, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của từng nước. Dựa vào khái niệm cụ thể, các nhà lập pháp của từng quốc gia mới có cơ sở để xây dựng các chế định liên quan đến đối tượng này.
Về khái niệm nhãn hiệu trong các văn bản quy phạm pháp luật, trước hết phải kể đến khái niệm được đề cập đến trong Luật mẫu về nhãn hiệu, tên thương mại và cạnh tranh không lành mạnh cho các nước phát triển năm 1967 của WIPO. Theo đó, nhãn hiệu là “các dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau.”6 Khái niệm này đưa ra những đặc điểm cơ bản nhất của nhãn hiệu để các quốc gia có thể tham khảo và từ đó xây dựng nên khái niệm về nhãn hiệu phù hợp với quan điểm lập pháp của họ. Thêm vào đó, quy định này cũng nêu rõ các yếu tố tạo nên nhãn hiệu có thể là “một hoặc nhiều từ ngữ, hình, hình 6 Mục 1.a, Luật mẫu về nhãn hiệu, tên thương mại và cạnh tranh không lành mạnh cho các nước phát triển 1967 13 ảnh, biểu tượng, màu sắc hoặc sự trinh bày đặc biệt trên bao bì, bao gói sản phẩm”, hoặc là sự kết hợp của chúng. Bộ phận của quy định trên thực tế là một hạn chế lớn, bởi việc quy định các dấu hiệu có thể được sử dụng làm nhãn hiệu theo hướng liệt kê đóng có nghĩa là pháp luật chưa dự liệu được trước sự phát triển của khoa học công nghệ có thể dẫn đến việc các dấu hiệu phi truyền thống cũng có thể trở thành nhãn hiệu.
Năm 1994, Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền SHTT (TRIPs) Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng đưa ra khái niệm về nhãn hiệu là: “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hoá. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình hoạ và tổ hợp các màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hoá.”7 Có thể thấy rằng so với Luật mẫu của WIPO, quy định tại Hiệp định TRIPs có sự mở rộng về phạm vi các dấu hiệu được dùng làm nhãn hiệu, thông qua việc quy định rằng bất kỳ một dấu hiệu nào cũng có thể được sử dụng làm nhãn hiệu. Ngoài ra, Hiệp định TRIPs có bổ sung thêm khả năng được đăng ký là một yếu tố bắt buộc trong việc xác định một dấu hiệu có phải là nhãn hiệu hay không. Từ Luật mẫu của WIPO và Hiệp định TRIPs, các quốc gia thành viên của WIPO và WTO đã xây dựng những khái niệm về nhãn hiệu riêng theo yêu cầu của họ.
Tại Hoa Kỳ, khái niệm nhãn hiệu được quy định bao gồm “bất kỳ từ, tên gọi, biểu tượng, hay hình vẽ, hoặc sự kết hợp giữa chúng mà - (1) được sử dụng bởi một chủ thể, hoặc (2) được một chủ thể có ý định sử dụng nó trong thương mại và xin đăng ký theo quy định tại luật này - để xác 7 Theo khoản 1 Điều 15, Hiệp định TRIPs 14 định và phân biệt hàng hóa của người đó, bao gồm cả các hàng hóa đặc chủng, với những hàng hóa cùng loại được sản xuất hoặc được bán bởi những người khác và để chỉ rõ nguồn gốc của hàng hóa thậm chí khi mà không xác định được nguồn gốc đó”8 So với các khái niệm nêu trên, khái niệm này bổ sung thêm yếu tố sử dụng, bởi pháp luật Hoa Kỳ đặc biệt coi trọng yếu tố này trong việc xác định một dấu hiệu là nhãn hiệu hay không. Tại Việt Nam, khái niệm nhãn hiệu được đưa ra trong Luật SHTT 2005 là “dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.”9 Cách xây dựng khái niệm này đơn giản và mở hơn so với khái niệm theo Luật mẫu của WIPO hay Hiệp định TRIPs do các dấu hiệu không được cụ thể hóa. Việc xây dựng khái niệm đơn giản như vậy cũng tạo điều kiện cho khả năng xây dựng các quy phạm pháp luật cho các dấu hiệu phi truyền thống được chấp nhận là nhãn hiệu. Nhìn chung, dù ở bất kỳ quốc gia nào, nhãn hiệu cũng là các dấu hiệu dùng để phân biệt các sản phẩm được cung cấp bởi các chủ thể khác nhau và dấu hiệu nào được xác định là nhãn hiệu phụ thuộc vào quy định của pháp luật từng quốc gia.
Từ các khái niệm nêu trên, ta có thể đưa ra được một khái niệm chung về nhãn hiệu như sau: Nhãn hiệu là các dấu hiệu theo quy định của pháp luật được các cá nhân, tổ chức sử dụng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể khác. Đặc điểm của nhãn hiệu Về cơ bản, nhãn hiệu có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, nhãn hiệu là dấu hiệu khả năng phân biệt. Khả năng giúp phân biệt hàng hóa, dịch vụ cung cấp bởi các chủ thể khác nhau trên thị trường là giá trị quan trọng nhất của nhãn hiệu.