Chương I: Khái quát chung quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được sử dụng và thừa nhận rộng rãi Chương II: Pháp luật Việt Nam hiện hành về nhãn hiệu được sử dụng và thừa nhận rộng rãi Chương III: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được thừa nhận và sử dụng rộng rãi tại Việt Nam 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU ĐƢỢC SỬ DỤNG VÀ THỪA NHẬN RỘNG RÃI 1. KHÁI NIỆM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU ĐƢỢC SỬ DỤNG VÀ THỪA NHẬN RỘNG RÃI 1. Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu công nghiệp 1. Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ Dù một số đối tượng của sở hữu trí tuệ xuất hiện từ rất lâu như nhãn hiệu và sáng chế và có những quy định bảo vệ những đối tượng này ở mức độ rất hạn chế, nhưng nhìn chung sở hữu trí tuệ là một ngành luật rất mới.
Sự phát triển của pháp luật về sở hữu trí tuệ gắn liên với sự ra đời và phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp. Các quốc gia khởi nguồn của cuộc cách mạng công nghiệp là các quốc gia sớm có các đạo luật bảo hộ các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, ví dụ: Đạo luật Elizabeth I về sáng chế tại Vương Quốc Anh năm 1640 xuất hiện vào buổi bình minh của cuộc cách mạng công nghiệp, Luật của Nữ hoàng Anne tại Vương Quốc Anh năm 1709, các đạo luật về quyền tác giả ra đời tại Mỹ năm 1790, tại Pháp năm 1791… Trên phương diện pháp luật quốc tế, sự phát triển của pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ diễn ra sôi động cuối Thế kỷ XIX với sự xuất hiện của các điều ước quốc tế như Công ước Paris năm 1883 về quyền sở hữu công nghiệp, Công ước Berne năm 1886 về quyền tác giả và hàng loạt các điều ước được ký kết sau đó. Đặc biệt, sự ra đời của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) trên cơ sở Ủy ban Quốc tế thống nhất về Bảo hộ Sở hữu trí tuệ (BIRPI) đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ trong hợp tác quốc tế về Sở hữu trí tuệ. Bản thân thuật ngữ Sở hữu trí tuệ (Intellectual Property trong tiếng Anh) cũng xuất hiện rất muộn.
Lê Nết [9, tr.13], đến năm 1952, thuật ngữ Sở hữu trí tuệ mới được đề xuất bởi giáo sư A. Bogsch, giám đốc BIRPI lúc bấy giờ, để gọi chung các đối tượng trên. Định nghĩa về Sở hữu trí tuệ hay Quyền sở hữu trí tuệ, TS. Lê Nết [9, tr.23] đưa ra ý kiến như sau: “Quyền sở hữu trí tuệ là tập hợp các quyền đối với tài sản vô hình 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là thành quả lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh của các chủ thể, được pháp luật quy định bảo hộ”.
Trong định nghĩa này, TS. Lê Nết đã chỉ rõ bản chất quyền sở hữu trí tuệ là tài sản vô hình, và quyền sở hữu trí tuệ bảo hộ thành quả lao động sáng tạo và uy tín kinh doanh. Khác hơn cách định nghĩa mang tính học thuật trên, Luật SHTT Việt Nam đưa ra định nghĩa tại Điều 4 khoản 1: “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng”. Đây là cách định nghĩa theo kiểu liệt kê các bộ phận của quyền sở hữu trí tuệ, với các bộ phận chính gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp, ngoài ra còn bao gồm quyền đối với giống cây trồng.
Tuy nhiên thuật ngữ “tài sản trí tuệ” dường như là một sự vô tình thu hẹp không đáng có bởi có thể gây ấn tượng rằng quyền sở hữu trí tuệ không bao gồm đối tượng mang tính chất “uy tín kinh doanh” nhiều hơn là tính “trí tuệ” như nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý. Từ các định nghĩa trên, có thể thấy hai bộ phận chính cấu thành quyền sở hữu trí tuệ là “Quyền tác giả và quyền liên quan tới quyền tác giả” và “Quyền sở hữu công nghiệp”. Quyền tác giả và quyền liên quan tới quyền tác giả đề cập tới các tác phẩm và các hình thức và phương pháp truyền đạt các các tác phẩm đó tới công chúng. Các tác phẩm thuộc các lĩnh vực như văn học, khoa học, nghệ thuật và có thể được truyền đạt tới công chúng qua nhiều phương thức khác nhau như biểu diễn trực tiếp, phân phối bản ghi âm, ghi hình hay phát sóng truyền thanh, truyền hình hay qua tín hiệu vệ tinh.
Đặc điểm của Quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả là chỉ bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm cũng như hình thức truyền đạt tác phẩm, không bảo hộ nội dung được truyền tải trong tác phẩm hay trong các hình thức truyền đạt tác phẩm. Bộ phận thứ hai là Quyền sở hữu công nghiệp. Các đối tượng của Quyền sở hữu công nghiệp có thể được phân loại một cách tương đối thành nhóm các đối tượng liên quan đến ý tưởng sáng tạo như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí và nhóm các đối tượng liên quan đến uy tín kinh doanh như nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Khái quát về quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 1. Khái quát về quyền sở hữu công nghiệp Dù các đối tượng của sở hữu công nghiệp như nhãn hiệu và sáng chế đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử, nhưng đến thời kỳ Trung cổ pháp luật bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp mới manh nha xuất hiện với sự ra đời của Đạo luật Venice 1474 về bảo hộ sáng chế. Như một nhu cầu tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp, pháp luật về sở hữu công nghiệp phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn thế kỷ XV - XIX, việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày càng được quan tâm, điểm hình là sự ra đời các đạo luật về nhãn hiệu tại các nước như Pháp (1857), Italia (1868), Anh (1883)… Tiếp đó là sự ra đời của hàng loạt điều ước quốc tế về sở hữu công nghiệp, tiêu biểu là Công ước Paris năm 1883, Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa năm 1891, Hiệp ước hợp tác sáng chế (PCT) năm 1970, Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) năm 1994… Tiến trình trên cho thấy pháp luật về sở hữu công nghiệp là một lĩnh vực rất mới mẻ, chỉ xuất hiện trong vài thế kỷ trở lại đây nhưng có sự phát triển mạnh mẽ và nhận được sự quan tâm lớn ở cả phạm vi quốc gia và quốc tế. Định nghĩa về quyền sở hữu công nghiệp, Công ước Paris không đưa ra định nghĩa trực tiếp, thay vào đó Công ước liệt kê các đối tượng sở hữu công nghiệp tại Điều 1: Đối tượng bảo hộ sở hữu công nghiệp bao gồm patent, mẫu hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ, và chống cạnh tranh không lành mạnh.
Tương tự điều khoản trên, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam đưa ra định nghĩa về quyền sở hữu công nghiệp tại Điều 4 khoản 4 như sau: Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nội dung hai điều khoản trên thống nhất với nhau về tổng thể và các bộ phận cơ bản của quyền sở hữu đều được liệt kê đầy đủ. Ngắn gọn hơn, Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội [14, tr.105] đưa ra tóm tắt định nghĩa như sau: Quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp. Định nghĩa nêu trên không có gì khác biệt với các điều luật dẫn ở phần trên, chỉ khái quát các đối tượng được liệt kê trong thuật ngữ duy nhất “các đối tượng sở hữu công nghiệp”.
Từ các quan điểm nêu trên về khái niệm “Sở hữu công nghiệp”, đối tượng được bảo hộ dưới dạng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm Sáng chế, Kiểu dáng công nghiệp, Thiết kế bố trí mạch tích hợp, Chi dẫn địa lý, Tên thương mại, Nhãn hiệu và Bí mật kinh doanh. Về nội dung quyền sở hữu công nghiệp, với tư cách là tài sản vô hình, quyền sở hữu công nghiệp không thể bị “chiếm hữu”. Theo đó, nội dung của quyền sở hữu công nghiệp bao gồm quyền sử dụng và quyền định đoạt, hay nói như TS. Lê Nết [8, tr.23]: “Quyền sở hữu công nghiệp bảo hộ quyền sử dụng độc quyền vì mục đích kinh tế và quyền định đoạt của các chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp”.
Giữa hai quyền năng này, quyền sử dụng là nội dung quan trọng nhất. Thậm chí, tác giả Nguyễn Thị Vân [15, tr.13] cho rằng: “Về bản chất, bảo hộ quyền SHCN là bảo hộ độc quyền khai thác, sử dụng đối tượng SHCN. […] Quyền của chủ sở hữu đối tượng SHCN được thể hiện chủ yếu và cơ bản nhất ở quyền sử dụng đối tượng SHCN”. Theo tinh thần trên, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, Điều 123 Khoản 1 quy định về nội dung quyền sở hữu công nghiệp bao gồm Quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, Quyền ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp và Quyền định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp, trong đó có thể thấy rằng dù chia thành ba quyền năng nhưng chúng vẫn xoay quanh hai quyền năng cốt lõi là sử dụng và định đoạt.
“Ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp” về bản chất vẫn nằm trong quyền sử dụng, tuy nhiên có thể nhà làm luật có dụng ý tách riêng để nhấn mạnh quyền năng “Ngăn cấm” của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái quát về quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu Với tư cách là một đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu không nằm ngoài nội dung quyền sở hữu công nghiệp nói chung.