Chương 1: Một số vấn đề chung về bảo hiểm thất nghiệp và pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm thất nghiệp. Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp tại tỉnh Bắc Giang. 5 Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1.
Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm thất nghiệp 1. Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp Thất nghiệp là rủi ro về việc làm mang lại thiệt hại về đời sống và tương lai phát triển cá nhân, gia đình và xã hội. Rủi ro thất nghiệp ngày càng gia tăng và song hành với tốc độ phát triển của khoa học công nghệ. Chình vì vậy, cần phải có biện pháp kiểm soát và hạn chế tổn thất khi xảy ra rủi ro thất nghiệp.
Hiện nay, bảo hiểm thất nghiệp là biện pháp chuyển giao rủi ro hiệu quả nhất đối với người thất nghiệp. Bảo hiểm thất nghiệp ra đời nhằm ổn định an sinh xã hội. Bảo hiểm thất nghiệp là một trong những chính sách kinh tế xã hội của các quốc gia. Theo Công ước số 102 năm 1952 của ILO thì bảo hiểm thất nghiệp là một trong chín nhánh của an sinh xã hội.
Cùng với các nhánh khác, bảo hiểm thất nghiệp góp phần bảo vệ NLĐ trong hệ thống pháp luật bảo hiểm xã hội. Với tính chất chia sẻ giữa những đối tượng tham gia, bảo hiểm thất nghiệp hỗ trợ một khoản tài chính giúp NLĐ thất nghiệp đảm bảo ổn định cuộc sống; sớm đưa lao động thất nghiệp tìm được việc làm ổn định thông qua các hoạt động đào tạo, tư vấn, hỗ trợ học nghề. Quá trình hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp là một quá trình thường xuyên, liên tục, và có sự tham gia đóng góp của cả NLĐ, NSDLĐ và sự hỗ trợ của Nhà nước. Do đó, bảo hiểm thất nghiệp mang tính chất chia sẻ giữa các đối tượng tham gia thông qua tỷ lệ đóng góp được quy định cụ thể trong các quy định của pháp luật bảo hiểm thất nghiệp.
Ở Việt Nam, theo quy định tại Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 thì BHTN được hiểu là “sự đảm bảo, thay thế, bù đắp một phần thu nhập của NLĐ trong trường hợp bị mất việc làm, đang có nhu cầu tìm việc làm, đồng thời có một số biện pháp để họ nhanh chóng quay lại thị trường lao động”. 7 Sau nhiều năm thực hiện BHTN, Việt Nam đã có điều chỉnh mang tính đột phá khi chuyển toàn bộ chế độ BHTN quy định ở Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 sang Luật Việc làm năm 2013. Khoản 4, Điều 3, Luật Việc làm năm 2013 đưa ra định nghĩa về BHTN, cụ thể như sau: “Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi bị mất việc làm, hỗ trợ NLĐ học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp”. Theo đó, BHTN không phải là biện pháp giải quyết hậu quả thất nghiệp một cách bị động, mà BHTN có vai trò chủ động trong việc thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, giảm thất nghiệp, giúp NLĐ nhanh chóng tìm được việc làm.
BHTN không chỉ thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ, giúp đảm bảo cuộc sống cho họ trong thời gian bị mất việc làm, mà còn nhằm mục đích trợ giúp NLĐ thất nghiệp quay trở lại thị trường lao động, bằng cách thành lập và sử dụng một quỹ tài chính được đóng góp từ các bên chủ thể tham gia BHTN, qua đó góp phần bảo đảm an toàn đời sống cho NLĐ và gia đình họ, góp phần bảo đảm an sinh xã hội. Bảo hiểm thất nghiệp có thể được tiếp cận dưới những góc độ sau: Xét về góc độ kinh tế, bảo hiểm thất nghiệp được hiểu là biện pháp chia sẻ rủi ro, bù trừ tổn thất trong bảo hiểm theo Luật định dựa trên nguyên tắc số đông bù số ít, là một biện pháp hỗ trợ NLĐ bị mất việc làm ổn định tạm thời cuộc sống, học nghề, tìm kiếm việc làm mới qua việc tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung do NLĐ, NSDLĐ đóng góp và hỗ trợ từ phía nhà nước. Xét về góc độ pháp lý, bảo hiểm thất nghiệp được hiểu là tổng hợp những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các bên tham gia vào quá trình thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp. Như vậy, có thể hiểu bảo hiểm thất nghiệp là quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung (Quỹ bảo hiểm thất nghiệp) được hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia (NLĐ, NSDLĐ và sự hỗ trợ của Nhà nước) nhằm hỗ trợ tài chính tạm thời cho những người bị mất việc làm.
Đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp BHTN có một số đặc điểm chung của một chế độ nằm trong BHXH, bên cạnh đó cũng có một số đặc điểm đặc thù khác mang tính chất của chế độ việc làm, góp phần tạo nên một sự thống nhất trong quan hệ của chế độ an 8 sinh xã hội với vấn đề việc làm. Thứ nhất, đối tượng tham gia BHTN chỉ là NLĐ làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ 03 tháng trở lên, viên chức làm việc theo HĐLV có thời hạn từ 03 tháng trở lên mà không bao gồm cán bộ, công chức khác với đối tượng tham gia BHXH, BHYT. Thứ hai, về điều kiện được hưởng các chế độ từ BHTN khác với các chế độ BHXH khác. NLĐ chỉ được hưởng các chế độ BHTN khi đã chấm dứt HĐLĐ hoặc HĐLV và đủ các điều kiện sau đây: Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Khoản 2 Điều 49 Luật Việc làm năm 2013; Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này; Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Khoản 4 Điều 49 Luật Việc làm năm 2013.
Thứ ba, bảo hiểm thất nghiệp không chỉ có trợ cấp thất nghiệp nhằm bù đắp một phần thu nhập đảm bảo ổn định cuộc sống khi NLĐ bị thất nghiệp mà còn hỗ trợ NLĐ học nghề, hỗ trợ giới thiệu việc làm là biện pháp giúp NLĐ sớm quay lại thị trường lao động. BHTN còn giúp NLĐ duy trì việc làm thông qua chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề. Thứ tư, đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm thất nghiệp là những NLĐ đã chấm dứt HĐLĐ, HĐLV hay nói cách khác là những NLĐ đã chấm dứt quan hệ lao động, không tham gia thị trường lao động. Đó là sự khác biệt hoàn toàn với đối tượng hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.
Thứ năm, việc bảo lưu hưởng trợ cấp thất nghiệp trong 1 số trường hợp như: NLĐ được xác định là không có nhu cầu hưởng TCTN theo quy định tại Khoản 6 Điều 18 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP hoặc NLĐ thuộc một trong các trường hợp chấm dứt hưởng TCTN quy định tại tại Khoản 2 Điều 21 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ. Đây là đặc điểm khác biệt so với các chế độ BHXH khác nhằm bảo toàn quỹ và thể hiện mục tiêu an sinh xã hội cho NLĐ thất nghiệp.Nguyên tắc bảo hiểm thất nghiệp Nguyên tắc BHTN định hướng và chi phối toàn bộ các quy phạm pháp luật về BHTN. BHTN là một chính sách nằm trong hệ thống các chính sách 9 an sinh xã hội của Nhà nước ta nên BHTN cũng tuân thể các nguyên tắc chung của pháp luật về an sinh xã hội. Theo quy định tại Điều 41 Luật Việc làm nêu 05 nguyên tắc bảo hiểm thất nghiệp như sau: Nguyên tắc thứ nhất, bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHTN.
Nguyên tắc này bắt nguồn từ sự tương trợ giữa những người tham gia. Theo nguyên tắc này, Luật Việc làm quy định cụ thể đối tượng bắt buộc tham gia để hình thành quỹ BHTN thực hiện mục tiêu an sinh xã hội đối với người thất nghiệp. Chỉ khi có sự chung tay của cộng đồng thì chính sách BHTN thực hiện mới hiệu quả. Nguyên tắc thứ hai, mức đóng BHTN được tính trên cơ sở tiền lương của NLĐ.
BHTN khác các loại bảo hiểm thương mại bảo đảm về tài sản, bảo đảm về tính mạng mà BHTN bảo đảm về thu nhập khi người lao động bị thất nghiệp. BHTN hình thành trên mối quan hệ hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc. Mà yếu tố tiền lương là yếu tố quan trọng trong bản HĐLĐ, HĐLV. Tiền lương thể hiện sức lực, trí tuệ đóng góp của NLĐ ở mỗi vị trí công việc.
Chính vì vậy, mức đóng BHTN được xác định trên cơ sở tiền lương của NLĐ trước khi nghỉ việc. Nguyên tắc thứ ba, mức hưởng bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp. Đây là nguyên tắc dựa trên mối quan hệ giữa sự đóng góp và thụ hưởng của NLĐ. Tuy nhiên, cần có sự tương xứng về mức đóng góp, thời gian đóng góp và mức, thời gian thụ hưởng nhằm tạo sự công bằng xã hội cũng như đảm bảo sự an toàn và ổn định quỹ BHTN, tránh tình trạng Nhà nước phải bù đắp thiếu hụt, NLĐ ỷ lại hưởng thụ.
BHTN không chỉ mang tính chất kinh tế thông qua các khoản TCTN mà nó còn mang tính chất xã hội sâu sắc, có sự chung tay đóng góp của cộng đồng nhằm giúp NLĐ vượt qua khó khăn trong giai đoạn bị mất việc làm. Nguyên tắc thứ tư, việc thực hiện bảo hiểm thất nghiệp phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia. Đối tượng hưởng BHTN là một trong những đối tượng yếu thế trong xã hội, gặp khó khăn về thu nhập, tài chính. Để giúp họ sớm cân bằng cuộc sống, quay lại thị trường lao động thì các thủ tục, hồ sơ BHTN cũng như trình tự 10 giải quyết cần đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm giải quyết kịp thời cho NLĐ.
Nguyên tắc thứ năm, quỹ bảo hiểm thất nghiệp được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm an toàn và được Nhà nước bảo hộ. Theo nguyên tắc này thì Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền quản lý quỹ BHTN. Do quỹ BHTN là quỹ tài chính tài chính tập trung, vì vậy nhà nước có vai trò chủ đạo và thống nhất trong việc quản lý và sử dụng quỹ.